Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù…

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù…



Viết về Mẹ nhân ngày Lễ Mẹ


Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót 2015-2016

Kính tặng Cha Anphonsô Phạm Gia Thụy, CSsR, với tất cả lòng tri ân







Lễ Mẹ có lẽ là dịp để người ta bồi hồi nhắc nhớ những ký ức ngọt ngào về Mẹ và tha thiết dâng lên Mẹ những tâm tình tri ân chân thành nhất. Riêng tôi, chữ “Mẹ” thân quen ấy lại gắn liền với một ký ức đau thương và in hằn lên thời niên thiếu buồn tủi của tôi một vết thương lòng nhức nhối khôn nguôi…

Tôi không may mắn chào đời giữa gia cảnh đổ vỡ trái ngang. Cha tôi đã rời bỏ mẹ khi tôi vẫn còn trong dạ bà. Mẹ tôi giận cá chém thớt, nên bao nhiêu nỗi niềm oán hận đối với cha, bà đều đem trút hết lên con. Thật ra, tôi không đến nỗi bị bạo hành về thân xác nhưng tâm hồn tôi luôn buốt giá bởi thái độ rẻ rúng hững hờ hay tơi tả dưới những lời lẽ đay nghiến cay nghiệt.

Thế là, suốt quãng đời thơ ấu bất hạnh của mình, tôi luôn trăn trở trong nỗi khát khao thầm lặng duy nhất. Ấy là ánh mắt dịu dàng và bàn tay êm ái của mẹ. Nhưng hỡi ôi, giấc mộng rất đỗi bình dị và chính đáng ấy chưa bao giờ có cơ hội hóa thành hiện thực… Tôi được nghe nói rất nhiều về Mẹ, về cái hương vị thơm ngát dịu ngọt của Tình Mẹ bát ngát bao la mà tôi chưa từng có diễm phúc nếm trải qua. Biết bao lần, tôi lặng lẽ thả hồn theo âm điệu du dương da diết của bài ca “Lòng Mẹ”, thẫn thờ ngắm nhìn những đứa trẻ rạng rỡ quanh mình, mà ngậm ngùi nuốt nước mắt vào lòng, khắc khoải với cảm giác thèm thuồng được một lần rúc mình vào vòng tay vỗ về ấm áp của mẹ, say sưa đắm chìm vào giấc ngủ bình yên nhất của cuộc đời…

Về phần mẹ tôi, trở nên đơn thân ở tuổi đời còn quá trẻ, đương nhiên bà luôn ao ước tìm được một nhịp cầu tri âm hầu giải tỏa nỗi hiu quạnh, trống vắng của cuộc đời cô phụ. Khổ nỗi, mẹ tôi sống giữa thời chinh chiến loạn lạc. Thanh niên trai trẻ thời ấy, không phơi thây nơi chiến trường, hay mạng vong bởi tai nạn, số ít còn lại, nếu đem chia đều ra, có lẽ cũng đủ cho mỗi ông cặp kè với ít nhất vài ba bà. Mẹ tôi, với nhan sắc tầm thường, lại một nách con thơ, làm sao có đủ cơ may đua tranh với các địch thủ trẻ trung, xinh đẹp khác nơi chốn tình trường?

Cứ như thế, các đấng mày râu có bước vào đời mẹ tôi, đều chỉ vì mưu cầu cá nhân. Được việc rồi, thì phũ phàng phủi tay, giũ áo ra đi… Vì thế, mẹ tôi càng thêm cay đắng với tôi, bởi bà cho rằng sự hiện diện thừa thãi của tôi chính là cái gai nhọn chướng thối gây trở ngại cho các mối duyên lành đến với bà…

Cuối cùng, khi tôi vừa đặt chân vào ngưỡng cửa Trung Học, mẹ tôi cũng thành tựu tìm được một nửa của đời mình, theo nghĩa là người ấy chấp nhận kết hôn với mẹ chứ không quất ngựa truy phong như bao gã họ Sở khác. Tuy nhiên, ngoài điểm khác biệt ấy ra, so với mấy gã nhân tình trước kia của mẹ, lão ta cũng thuộc hạng cá mè một lứa, hay nói huỵch toẹt ra, chẳng qua chỉ là kẻ lừa tình, kẻ tống tiền, có thế thôi.

Ấn tượng đầu tiên của tôi đối với vị hôn phu của mẹ là dung mạo của lão không được sáng sủa cho lắm. Điều này có thể chỉ xuất phát từ nhận xét chủ quan của bản thân tôi, bởi lẽ “ghét ai, ghét cả đường đi lối về”. Thế nhưng có một điểm mà chắc chắn tôi chẳng hề nói oan cho lão tý nào. Ấy là, lão không chỉ thua tuổi tác, kém học thức hơn mẹ tôi mà còn vô công rỗi nghề, ngày qua tháng lại, chỉ biết mỗi việc là lang thang từ đầu làng đến cuối xóm, nhậu nhẹt say xỉn, rồi đứng ngồi xiêu vẹo, lè nhè phát ngôn bừa bãi, không còn chút tư cách, thể diện nào nữa.

Một kẻ bê tha bệ rạc như thế, mà đòi làm… cha tôi, dĩ nhiên là tôi không… phục! Vì thế, tôi không ngần ngại vồ vập cơ may thuận tiện nào hòng phá bĩnh một cuộc hôn nhân mà tôi cho là “tréo cẳng ngỗng”. Và tôi đã thầm nở nụ cười đắc ý khi thấy mình không đơn độc trong cuộc chiến cam go này bởi tất cả mọi người xung quanh, từ họ hàng, láng giềng, cho đến bạn bè, ai ai cũng đồng lòng công khai hay ngấm ngầm đứng về phía tôi. Tuy nhiên, rốt cuộc, tôi vẫn thua cuộc thảm hại, lý do đơn giản là vì mẹ tôi mới nắm quyền quyết định sau cùng. Sau bao nỗ lực quấy rối bất thành, tôi đành ấm ức nhìn mẹ và cha dượng hân hoan tay trong tay, tiến vào thánh đường làm lễ hôn phối và buộc phải cay đắng chấp nhận đội chung nhà với một kẻ mà tôi đã từng thề thốt nặng lời là sẽ không bao giờ đội chung Trời.

Nói cho công bằng, đem so với cái đám trai tráng bạc bẽo đầy rẫy xung quanh tôi, cha dượng tôi không đến nỗi bị xếp vào hàng tệ bạc bậc nhất. Ít ra, xét về bề ngoài, lão lúc nào cũng tỏ ra ngọt ngào, yêu chiều cả hai mẹ con tôi và ngay trong những cơn say xỉn quắc cần câu, lão chỉ bất quá nói năng lảm nhảm, chứ chưa bao giờ bạo hành gia đình. Tuy nhiên, tôi vẫn không tài nào ưa được những luận điệu mật ngọt mà tôi kiên quyết gán cho cái nhãn hiệu giả dối. Khó chịu hơn nữa là những trích dẫn phô trương từ Kinh Thánh mà lão thường xuyên trịch thượng rót vào tai tôi hòng giáo huấn tôi những thứ đạo lý vô nghĩa nhất trên đời.

Gai mắt nhất là sự kiện cha dượng tôi không chỉ ăn không ngồi rồi, lại còn vung vãi tiền bạc cho những cuộc chơi bời thỏa chí với bạn bè. Phải chi của cải do chính bàn tay lão gầy dựng nên! Đằng này, mẹ tôi phải tằn tiện, ky cóp trong bao nhiêu năm trời mới tích lũy được một chút vốn liếng, bây giờ cứ không cánh mà lần hồi bay đi. Gia sản càng hao hụt, mẹ tôi càng xiết chặt các chi tiêu cần thiết dành cho tôi. Cuối cùng, tôi buộc phải vừa học vừa đan móc, may vá để kiếm thêm thu nhập cho các khóa luyện thi ngoài giờ.

Sự dị ứng của tôi đối với cha dượng đã vọt lên đến đỉnh điểm vào lúc lão bắt đầu giở thói xàm xỡ đồi bại đối với tôi. Cơn hỏa khí đang ngùn ngụt trong tôi càng thêm bùng phát dữ dội khi mẹ tôi một mực bênh vực lão cha dượng vô liêm sỉ, đoạn thản nhiên giáng cho tôi vài bạt tai xiểng liểng.

Kể từ đó, tôi bắt đầu nuôi dưỡng lòng thù hận. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là thù hận, một thứ cảm giác thiêu đốt nóng bỏng rất khó chịu, không những không nguôi ngoai, mà còn trở nên ngút ngàn theo thời gian. Ban đầu, tôi chỉ ghét cay ghét đắng lão cha dượng trơ trẽn lố bịch, nhưng dần dà, nỗi căm hận dai dẳng ấy đã lây lan qua cả người mẹ luôn lạnh lẽo vô cảm, đặc biệt là mỗi khi mẹ tôi không ngần ngại trừng phạt thái độ ngỗ nghịch của tôi đối với cha dượng bằng cách cắt bỏ thêm những khoản chi dùng vốn đã trở nên rất hạn hẹp đối với tôi.

Chẳng bao lâu, hoa quả của mối nghiệt duyên ấy đã chào đời. Một đứa trẻ dị tật bẩm sinh! Đáng lẽ bao nhiêu nỗi bất hạnh trong đời phải sớm tạo nên nơi tôi mối đồng cảm sâu xa với đứa em tàn phế, lại trở nên thứ tù ngục oan khiên nhốt kín tôi trong cô quạnh và các mưu toan rửa hận cay độc. Vì vậy, thay vì bày tỏ tình thương yêu và lòng thông cảm, tôi đã nhẫn tâm phá lên cười đắc ý trước sự ra đời của một sinh linh thiếu may mắn và độc ác trả đũa một kẻ hoàn toàn vô can bằng thái độ dửng dưng, bàng quang, xa cách.

Với sự xuất hiện của một thành viên mới, tôi lập tức bị hạ cấp thành thứ công dân hạng bét, luôn phải chịu đựng mọi sự phân biệt đối xử vô lý, bất công. Tài chính gia đình càng lúc càng trở nên khánh kiệt. Mẹ tôi phải liên tiếp bán nhà lớn hơn, mua nhà nhỏ hơn. Các nhu cầu tối cần thiết hằng ngày của tôi lập tức bị xếp xó vào hàng ưu tiên sau cùng trong các khoản chi thu gia đình. Đã thế, tôi đột nhiên hóa thành thứ đày tớ không công, phải gồng gánh hết mọi thứ công việc chồng chất trong nhà. Bỗng dưng phải è cổ nai lưng ra hầu hạ một kẻ không chút máu mủ ruột rà trong lúc lão xa hoa phè phỡn, khối ung nhọt ân oán canh cánh trong lòng càng thêm lở loét và loang lổ.

Nói cho chính xác, tôi hận cha dượng tôi, tôi hận mẹ tôi và tôi hận cả đứa em tàn tật vô tội của tôi. Cuộc sống vốn dĩ đã khốn khổ của tôi chẳng mấy chốc hóa thành chốn Hỏa Ngục Trần Gian khi tôi bị chính cảm giác hỷ nộ ái ố thất thường của bản thân gậm nhấm và giày vò không dứt. Ý tưởng phục thù tăm tối đã bóp nghẹt trái tim tươi trẻ của tôi, làm biến thái tâm hồn trong sáng của tôi đến mức dám nung nấu cả toan tính sát nhân. Tôi tức tối nghiền ngẫm kế hoạch hạ độc lão cha dượng đáng hận kia, cho lão đoàn tụ quách với… ông bà, có như thế, lão mới vĩnh viễn biến mất khỏi cuộc đời tôi. Dĩ nhiên, tôi không bao giờ có đủ dũng khí thực hiện âm mưu hiểm ác ấy. Trong cơn bế tắc cùng cực, tôi đã liều lĩnh leo lên lầu cao, tần ngần toan buông mình vào cõi hư vô đời đời nhưng tôi đã kịp thời kìm hãm lại, không phải vì e sợ cái chết cho bằng nỗi ngại ngùng phải giáp mặt với cuộc sống bí ẩn ở đời sau.

Tốt nghiệp xong Trung Học, tôi không tiếp tục học lên cao mà theo đuổi nghề may. Bấy giờ, kinh tế gia đình đã kiệt quệ lắm rồi, nhất là sau khi một đứa em nữa ra đời, nên tôi phải ngưng học dở dang và đi làm thuê cho các cửa hàng y phục. Rời khỏi ghế nhà trường, không còn bận rộn với bài vở, tôi thật không biết phải làm gì với khoảng thời gian rảnh rỗi đã trở nên lê thê thừa thãi. Lang thang bụi đời thì không có can đảm. Ăn chơi đàn đúm cũng chẳng có điều kiện. Ru rú trong nhà để vừa bị sai vặt, vừa phải chạm mặt với lão cha dượng gai mắt kia thì chả dại! Xem ra chỉ còn một nơi nương náu an toàn miễn phí duy nhất dành cho tôi, ấy là… nhà thờ!

Thú thật là ban đầu, tôi cần mẫn lai vãng các thánh đường, chẳng qua là mong tìm một liều thuốc ngủ, hòng lãng quên một thực tại đen tối đoạn trường. Nhưng rồi ngày tháng qua đi, tôi càng lúc càng thấy thân thiện gần gũi với Chúa hơn. Ngài mỉm cười với tôi và tôi ngây ngô đáp trả. Tôi bắt đầu ngỡ ngàng lắng nghe từng Lời của Ngài. Và đây, văng vẳng đến tai tôi, lời phán truyền ngày nào của Chúa Giêsu với uy quyền tối thượng và đòi hỏi tuyệt đối:

"Các con nghe lời dạy rằng: "Mắt đền mắt, răng đền răng. Nhưng Ta bảo các con: "Đừng chống cự kẻ ác. Nếu ai vả má bên phải, hãy đưa luôn má bên kia cho họ. Nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngắn, hãy để họ lấy luôn áo dài. Nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với họ hai dặm. Ai xin hãy cho; ai muốn mượn gì, đừng từ chối…
(Mt 5:38-42)

Nghe đến đây, tôi lập tức có đủ thông minh để đoán biết Chúa đang muốn gì ở nơi tôi. Ngài đang khẩn khoản mời gọi tôi hãy mở lòng bao dung mà tha thứ cho lão cha dượng Trời đánh, Thánh… đỡ kia! Lão ta quả là cái thứ Trời đánh, Thánh… đỡ thật mà, chứ Trời đã đánh cho nhừ đòn rồi mà Thánh còn đâm cho thêm vài nhát nữa thì kể như bế mạc cuộc đời, làm gì còn có thể nhởn nhơ tồn tại cho đến ngày hôm nay!

Dĩ nhiên là đời nào tôi chịu chấp thuận một yêu sách vô lý và bất công như thế. Kết quả là một cuộc tâm chiến dữ dội đã bùng nổ. Tôi giãy nãy, vùng vẫy, hòng thoát khỏi vòng tay cứng cỏi của Chúa nhưng Ngài nhất định không chịu buông tha. Ngài kiên trì rỉ rả vào tai tôi bài giảng chướng tai, gai óc ấy mỗi ngày nhưng tôi vẫn bướng bỉnh lắc đầu, bất phục. Chúa muốn gì, đó là chuyện của Ngài. Phần tôi, thà bị ném vào lửa đời đời” (Mt 18:8), chứ dứt khoát muôn đời không dung thứ lão cha dượng đáng nguyền rủa đến vạn lần ấy!

Cứ thế, tôi ngoan cố bám víu vào lối lý sự ngang ngạnh của mình, nhất là khi nhớ lại lần cuối cùng, lão cha dượng dám trơ trẽn khỏa thân trước mặt tôi. Lúc ấy, tôi điên tiết vơ bừa cây kéo gần đấy, chĩa chiếc mũi nhọn hoắc về phía lão, gầm gừ đe dọa:

- Ông mà tiến thêm một bước nữa thì tôi sẽ ném cây kéo này vào mặt ông và hét ầm lên cho cả làng cả xóm nghe!

Trước phản ứng dữ dội của tôi, lão ta đành lùi bước và không còn dám hó hé giở thêm trò đê tiện bỉ ổi nào nữa. Mặc dầu vậy, tôi vẫn căm tức khắc ghi lời thề sẽ ghim sâu mối hận này vào tận đáy lòng, mãi mãi không quên!

Thật lòng mà nói, tôi không thể hiểu được vì sao một Thiên Chúa được mệnh danh là Cha Từ Bi Nhân Hậu lại nhẫn tâm ném tôi vào giữa chốn bi kịch đoạn trường của một gia đình ly tán rồi lạnh lùng ngoảnh bước, phó mặc tôi bị vùi vập, nghiền tán thảm thương dưới gánh nặng tàn khốc của bấy nhiêu gian truân, nhọc nhằn ở trên đời. Để rồi một hôm, Ngài đột ngột xuất hiện trước mắt tôi, một mực nài ép tôi phải bằng lòng giũ bỏ mọi thứ hờn oán thâm thù:

"Các con có nghe lời dạy: "Hãy thương người láng giềng và ghét kẻ thù địch. Nhưng Ta bảo các con: "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con,…
(Mt 5:43-44)

Phần tôi, đương nhiên tôi không tài nào thuận ý buông xuôi một cách dễ dàng bởi những thương tổn tâm linh vẫn tiếp tục thối rữa đến mức hoại tử dưới gót chân giẫm đạp vô cảm vô tình của mẹ và cha dượng. Tôi vùng vằng dỗi hờn, làu bàu than phiền trách móc Chúa, đoạn nhấp nhổm tháo chạy hầu thoát khỏi tầm ảnh hưởng đáng sợ của Ngài. Thế nhưng…

Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Chỉ có Thầy mới có Lời Hằng Sống!
(Gn 6:68)

Tôi đã bị đẩy vào ngõ cụt cùng đường rồi, chỉ có Chúa mới cứu vớt được tôi thôi. Không còn sự chọn lựa nào khác, tôi đành ấm ức vâng phục Chúa. Từ đó trở đi, tôi bắt đầu cố gắng tập tành hy sinh, nhẫn nại, vị tha. Gọi là “tập tành”, nghe cho oách một tý, chứ thật ra, tôi đang bị Chúa dí súng vào đầu đấy, không vâng theo ý Ngài, không xong đâu. Bởi thế, tôi vừa cặm cụi với công việc thường nhật, vừa hậm hực ném cho lão cha dượng nhàn rỗi khó ưa kia ánh mắt hình… viên đạn.

Với thời gian và ân huệ của Thiên Chúa, niềm thù hận một thời hừng hực trong tôi cũng dần dà nguội mát. Tôi bớt lời châm chích xỏ xiên với cha dượng, ân cần với mẹ và quan tâm các em hơn. Vài năm sau, tôi xuất ngoại và định cư ở nước ngoài. Khoảng cách địa lý xa xôi đã giúp tôi hoàn toàn thoát ly khỏi những va chạm cọ xát khó chịu hằng ngày, nhờ vậy, nỗi căm hờn đắng chát  thưở xưa cũng từ từ lắng dịu xuống. Tuy vậy, tôi vẫn chưa thật sự có thể thốt ra lời tha thứ tận thâm sâu của đáy lòng. Trong những cánh thư gửi về quê nhà, tôi không bao giờ nhắc đến tên cha dượng. Thôi thì cứ xem như “nước sông không chạm nước giếng” vậy. Mẹ tôi có lẽ đã đoán biết tâm ý của tôi nên cũng lờ đi, không đề cập đến. Chẳng bao lâu sau, tôi lập gia đình, có một mái ấm hạnh phúc với hai thiên thần bé nhỏ.

Có sinh con, mới biết lòng cha mẹ”. Câu châm ngôn bất hủ của tổ tiên để lại quả không sai tý nào. Kể từ khi tôi cuốn mình vào vòng xoáy quay cuồng của vai trò và trách nhiệm làm mẹ, tôi mới bắt đầu cảm nghiệm mối đồng cảm sâu xa với người mẹ suốt đời duyên phận bẽ bàng. Tôi may mắn kề cận người bạn đời luôn sẵn sàng giang tay nâng đỡ mình, vậy mà lắm lúc tôi còn cảm thấy kiệt quệ khi phải đối đầu với đủ thứ căng thẳng và áp lực nặng nề của nhịp sống hiện đại. Huống chi xưa kia, mẹ tôi phải một thân một mình nuôi nấng con thơ trong đìu hiu cô quạnh, phải đơn thân gánh vác bao nhiêu vất vả nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh ngặt nghèo. Giá như mẹ nhẫn tâm hơn một tý, phũ phàng hơn một tý, tống quách tôi vào cô nhi viện cho rảnh mắt, thì làm gì còn có tôi của ngày hôm nay? Chỉ đến giờ phút này, nỗi hờn trách âm thầm từ bao năm nay với người mẹ khô khan cằn cỗi mới phai nhạt dần vì tôi đã hiểu ra rằng, mẹ tôi thật sự đáng thương hơn là đáng trách.

Thời gian gần đây, bỗng nhiên một loạt các biến cố xui xẻo, bất như ý đã bất ngờ liên tiếp xảy ra khiến tôi tối tăm cả mặt mũi. Trong khuôn khổ giới hạn của bài chia sẻ này, tôi chỉ xin nêu lên sự kiện tiêu biểu nhất. Ấy là tôi bỗng phát bệnh trầm kha, vô phương chữa trị. Giữa lúc tưởng chừng hoàn toàn vô vọng, tôi chợt nghĩ đến… phép lạ bởi vì giờ đây, chỉ có Chúa mới có đủ quyền năng để cứu chữa tôi. Thú thật là từ nào giờ, tôi không mấy quan tâm đến phép lạ. Không phải tôi không tin, nhưng tôi đã từng thấy rất nhiều người xung quanh mình, tối ngày cầu xin, xin đủ thứ đủ điều, từ tình duyên gia đạo cho đến công danh sự nghiệp, không được như ý thì bỏ Chúa, bỏ đạo. Vì vậy nên tôi luôn tự nhủ lòng, đừng xin xỏ gì hết cho… chắc ăn. Ngài cho gì, lấy nấy, Ngài lấy lại, cũng đành chịu thôi. Tuy thế, lần này tôi không thể ngoan ngoãn trông chờ vào sự an bài trớ trêu của định mệnh nữa. Các con thơ dại của tôi đang rất cần vòng tay ấp ủ chở che của mẹ. Tôi không thể bỏ rơi các con bơ vơ ở trên đời…

Mặt khác, tôi cũng ý thức được, Thiên Chúa là Đấng Tạo Thành, Ngài có tự do của riêng Ngài. Là một thụ tạo bé nhỏ, tôi chỉ có thể cầu xin, chứ không thể “khủng bố” Ngài. Vì vậy, tôi khẩn khoản thêm với Chúa rằng, nếu vì một lý do gì đó, Ngài không muốn chữa lành cho tôi, xin Ngài hãy chăm sóc các con thay cho tôi… Cuối cùng, Thiên Chúa đã vui lòng chấp thuận và căn bệnh đang tiến triển trầm trọng của tôi đã dần dần thối lui.

Một khi ngã xuống giường bệnh, người ta sẽ tự nhiên có thừa thời gian để suy gẫm về những điều mà thông thường người ta không rảnh rỗi để ngẫm nghĩ. Và một khi phải đối mặt với tử thần, người ta sẽ bỗng dưng có đủ khả năng nhận thức những điều mà thông thường người ta không tài nào lãnh hội được. Không ngoại lệ, tôi bắt đầu ý thức rằng, đã đến lúc tôi cần tập tành giũ bỏ hết mọi bám víu thế tục và điều tôi phải buông xuống trước tiên chính là các mối ân oán tình thù. Tôi bất chợt nhớ đến cha dượng ở quê nhà. Tuy nhiên, mùi vị đắng cay chua chát của năm xưa đã không còn dâng trào gay gắt nơi đầu lưỡi nữa. Trước kia, tôi căm ghét cha dượng bởi cho rằng ông đã tước đoạt quá nhiều thứ từ tay tôi, từ tình thương của mẹ cho đến tài sản trong nhà, chưa kể ông còn mưu toan cưỡng bức bản thân tôi. Nhưng rồi thời gian dần trôi, Thiên Chúa đầy lòng thương xót đã bù đắp đầy đủ bấy nhiêu mất mát, thiệt thòi của tôi, thậm chí còn dư đầy chan chứa, vượt quá mọi mong đợi giới hạn của tôi…

Quả thế, tôi tuy thiếu vắng tình mẹ nhưng đã được đền bù rộng rãi bằng một mái ấm hạnh phúc của riêng mình và lòng từ ái hải hà của Người Cha Thiên Quốc. Tôi tuy thiếu thốn vật chất nhưng đã được bồi thường hào phóng bằng cuộc sống tài chính ổn định trong hiện tại và một kho báu vô tận không bao giờ mục nát ở trời cao. Giờ phút này, tôi không tìm được lý do chính đáng nào để tiếp tục nung nấu oán hờn giận ghét nữa. Những vết thương lòng thối rữa và buốt nhói từ bao năm qua đã được Thiên Chúa băng bó, chữa lành và tuyệt nhiên không để lại vết sẹo gồ ghề nào.

Dầu vậy, con tạo nghiệt ngã xoay vần thường thích trêu ghẹo những tấm chân tình. Tôi đã phải vượt qua biết bao nhiêu trở ngại tâm linh gập ghềnh mới có thể thật lòng tha thứ và nhìn nhận cha dượng như ông xứng đáng được, với tư cách đồng là con cái của Cha Trên Trời. Vậy mà mẹ tôi bỗng nhiên thông báo một tin hoàn toàn bất ngờ, nằm ngoài tất cả dự đoán của tôi.  Ấy là, sau bao nhiêu năm thống khổ trong cuộc hôn nhân tù ngục, mẹ tôi quyết tâm tự giải thoát cho mình và ngầm nuôi ý định xây dựng lại hạnh phúc với một người mà xét về bề ngoài, trổi vượt hơn hẳn cha dượng tôi về mọi mặt. Về phía họ hàng thì miễn bàn rồi, không những bên tôi, mà cả dòng họ bên ông, ai nấy cũng đều đồng lòng ủng hộ mẹ tôi thoát ly khỏi gã chồng bê bối để vun đắp một mái ấm mới. Riêng tôi ngỡ ngàng xuôi theo ý mẹ mà tâm hồn không ngớt nổi sóng ba đào.

Mâu thuẫn chính là ở chỗ đấy. Tôi từng điên cuồng tìm đủ mưu kế hòng chia rẽ mẹ và cha dượng. Thế mà hôm nay, khi tâm nguyện xâu xé một thời đã được đạt thành, tôi chẳng thấy thích thú chút nào. Dẫu thế nào, mẹ và cha dượng cũng đã trang trọng trao nhau lời thề hứa trăm năm trước Bàn Thánh Chúa, và…

Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân chia.
(Mt 19:6)

Đó là một chân lý bất di bất dịch, không ai có thẩm quyền thay đổi được. Thiên Chúa là Đấng thủy chung như nhất, Ngài không hề bỏ rơi loài người cho dẫu loài người phản trắc đã bao phen ngoảnh mặt quay lưng lại với Ngài. Do đó, Ngài cũng đòi hỏi các con cái của Ngài một hôn nhân trường tồn, không phân rẽ. Như thế, việc ly hôn này chắc chắn không phải là điều làm đẹp lòng Chúa!

Tôi bất giác suy tưởng về ơn chữa lành mà Chúa vừa rộng lòng ban cho. Nhờ vậy, tôi bỗng chốc thấu hiểu, đâu là lầm lạc lớn nhất của đời mình. Tôi từng quan niệm rất ấu trĩ rằng, miễn là mẹ tôi chịu rời xa đức lang quân phá gia chi tử ấy thì bà sẽ được yên ổn an lành. Vì thế, tôi đã không từ nan bất cứ kế sách hay ho nào hòng vĩnh viễn tách rời và loại bỏ cha dượng ra khỏi cuộc đời của mẹ. Vậy mà, hoàn toàn trái ngược với những lập luận trần tục hẹp hòi của tôi, Thiên Chúa lại là:

… Đấng cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.
(Mt 5:45)

Một Đấng Chí Thánh Toàn Năng dĩ nhiên không bao giờ dung túng cho sự dữ hay phó mặc cho sự ác hoành hành, Dầu vậy, Ngài luôn có lòng trắc ẩn sâu thẳm và khoan dung cao vời đối với những kẻ lầm đường lạc lối. Thử nghĩ mà xem, giả như tồn tại một xí nghiệp sản xuất mà đa số thành phẩm đều không đạt yêu cầu chất lượng, cần phải loại bỏ, có phải xí nghiệp ấy sẽ đối đầu với nguy cơ phá sản trong một tương lai rất gần? Tương tự, nếu hễ ai lỡ bước sa chân là Thiên Chúa thẳng tay tống cổ xuống Hỏa Ngục thì kể như Ngài đại bại rồi vì toàn bộ công trình sáng tạo ban đầu của Ngài chắc chắn sẽ trôi sông đổ bể, bởi lẽ, cứ theo phép công thẳng mà xét, thì:

Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không;…
… mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa
(Rm 3:10; 3:23)

Do đó, Thiên Chúa đã quyết ý không biểu dương quyền năng uy dũng của Ngài bằng cách hủy diệt kẻ dữ, mà bằng lòng nhẫn nại vô biên hầu dìu dắt họ trở về với nẻo chính đường ngay. Ngài cũng nhất tâm không biểu lộ sự cực thánh vinh hiển của Ngài bằng cách loại bỏ kẻ ác, mà bằng lòng kiên trì vô bờ hầu hoán đổi họ trở nên lành thánh trước Nhan Ngài. Đơn giản là vì:

Cha của các con, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất…
… trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.
(Mt 18:14; Lc 15:7)

Đây mới chính là sự khôn ngoan tuyệt đỉnh của một Thiên Chúa Chí Thánh Toàn Năng mà bộ não phàm tục thiển cận của tôi đã không sao mường tượng ra được. Nghĩa là, chỉ cần cha dượng tôi chịu thay đổi, trở nên ngay lành, cần cù, chu đáo, lúc bấy giờ, không chỉ riêng mẹ tôi, mà cả hai ông bà sẽ cùng nhau vui hưởng hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Ngoài ra, cho dẫu tôi thành công chia rẽ hai người và mẹ tôi may mắn tìm được người bạn đời khác tử tế hơn, giữa lúc cha dượng tôi vẫn tiếp tục trầm luân trong u mê tăm tối, thì đó không phải là giải pháp khắc phục triệt để, phù hợp với kế hoạch yêu thương nguyên thủy của Cha Trên Trời.

Cải hóa một con người, đó là điều rất khó thực hiện, nếu không muốn nói là bất khả thi đối với sức lực hạn hẹp của người phàm. Thật vậy, dưới lăng kính nhân loại, cha dượng tôi kể như thuộc hạng vất đi, hết thuốc chữa rồi, nhưng ngược hẳn lại,

… đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được."
(Mt 19:26)

Quả thế, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ này từ không thành có, đã khiến kẻ chết sống lại,  chữa lành đủ loại bệnh tật hiểm nghèo và biến đổi biết bao kẻ tà tâm ác nghiệt thành bậc hiển thánh. Tuyệt nhiên không có gì là không thể thực thi được đối với Ngài. Ơn chữa lành dành cho căn bệnh nan y của tôi cùng các dấu lạ kỳ diệu khác mà Thiên Chúa đã lần lượt rộng lòng thi thố trên cuộc đời khốn cùng, không lối thoát của tôi đã chứng tỏ minh bạch điều đó.

Hơn nữa, Thiên Chúa còn soi lòng lòng mở trí cho tôi giác ngộ thêm rằng:

Đừng đoán xét thì các con khỏi bị đoán xét. Đừng lên án thì các con khỏi bị lên án…
... Sao con thấy cái dằm trong mắt anh em con mà không nhìn biết cây xà trong mắt mình?...
(Lc 6:37; 6:41)

Từ trước đến nay, tôi chỉ viện vào các hành vi bề ngoài của cha dượng rồi vội vàng lên án và gay gắt phủ nhận sự hiện hữu của ông ở trên đời. Tuy nhiên, tôi làm sao có khả năng dò thấu những tâm tư trăn trở tận sâu đáy lòng của ông? Biết đâu ông vốn có tâm hồn ngay lành hướng thiện, nhưng đang phải khổ sở vật vã với những yếu đuối hư hèn của xác thịt? Riêng bản thân tôi, chỉ vì nuôi chí phục thù mà ấp ủ bao toan tính độc địa. Tôi chỉ chưa có cơ hội thực hiện những ý đồ xấu xa ấy thôi.

Đến đây, tôi bất giác nhận ra, tôi mới chính là đứa con hoang đàng, đã đem gia sản yêu thương của Cha Trên Trời mà tiêu tán, phung phá nơi chốn bùn lầy nhơ nhớp của thù ghét oán hờn (Lc 15:11-13). Tôi đã lãng phí hơi thở sự sống quý giá của Thiên Chúa Ba Ngôi (St 2:7), vào những cảm giác bực tức, giận ghét vô bổ, thậm chí những mưu toan trả đũa vô ích, không đi đến đâu. Để rồi rốt cuộc, tôi chẳng thu hoạch được gì ngoài một cục diện đổ vỡ hoang tàn trong hiện tại. Xưa kia, tôi từng lôi đình thịnh nộ, không sao chấp nhận sự kiện một kẻ hoàn toàn vô can như tôi bỗng dưng phải gò lưng gánh chịu bao nỗi oan khiên ngang trái. Nhưng hôm nay, Thiên Chúa đã vén mở cặp mắt tâm linh của tôi để nhìn thấu, kẻ tội phạm trước tiên, không phải là ai khác ngoài… chính bản thân tôi! Quả là một nghich lý bất ngờ. Từ nào giờ, tôi những tưởng mình là nạn nhân vô tội, ngờ đâu bỗng chốc lại biến thành phạm nhân tội đồ trước ngai tòa của Đấng Tối Cao!

Lúc này đây, tôi vô cùng ray rứt hối tiếc về hậu quả tồi tệ của sự cứng lòng mù tối năm xưa. Tôi đã ngông nghênh ngoảnh bước quay lưng với lời mời gọi thiết tha của Thiên Chúa, đã ương ngạnh khước từ cộng tác vào chương trình cứu chuộc tuyệt hảo của Ngài. Giá như ngày ấy, tôi khiêm nhượng vâng phục Chúa, chân thành tha thứ và thành khẩn nguyện cầu cho cha dượng như Ngài hằng đòi hỏi mong chờ, biết đâu hôm nay, ông đã hồi tâm và một lòng một dạ mưu cầu hạnh phúc cho gia đình? Tôi bắt đầu nghiệm ra rằng, đối với nỗi bất hạnh cả đời của mẹ, tôi cũng góp phần trách nhiệm không nhỏ trong đó!

Thánh Monica thưở xưa đã phải vất vả ròng rã suốt 20 năm dài đằng đẵng, kiên tâm cầu nguyện trong nước mắt và thương đau, hầu hướng lòng ông chồng và ông con lạc lối chịu hồi đầu trở lại. Riêng với tôi bây giờ mà nói, tất cả xem ra đã quá muộn màng rồi. Tuy nhiên, đối với Thiên Chúa, không có cuộc trở về nào là muộn màng cả bởi Ngài quả quyết sẽ trả công bội hậu cho tất cả mọi người, kể cả những ai đến nhận việc vào giờ sau hết tại vườn nho của Ngài (Mt 20:1-16)! Tôi tự hứa với lòng mình và với Chúa, tôi sẽ dành quãng đời còn lại của mình để chuộc lại lỗi lầm bằng cách chuyên cần cầu nguyện cho mẹ và cha dượng. Hy vọng một ngày nào đó trong tương lai, Thiên Chúa giàu lòng xót thương sẽ an bài một đáp án mỹ mãn cho cuộc hôn nhân tuy oan trái nhưng đã được long trọng kết hợp trước Nhan Thánh Ngài. Tôi cũng cầu xin Chúa ban cho tôi ơn bền đỗ đến cùng vì tôi biết rõ, nếu thiếu bàn tay trợ giúp của Ngài, một phàm nhân hèn yếu như tôi sẽ rất dễ ngã lòng, buông xuôi…

Đọc những dòng tâm tình của tôi, có lẽ nhiều người sẽ cho rằng tôi không điên thì cũng khùng. Mẹ tôi đã một đời khổ lụy với gã chồng tệ bạc, không ra gì, sao không nhân cơ hội hiếm hoi này mà cổ võ bà vun bồi hạnh phúc thật sự? Đây quả là chọn lựa khôn ngoan theo lập luận thường tình của thế gian. Nhưng trái lại, Thiên Chúa luôn tạo cơ hội hối cải trở về và kiên nhẫn đợi chờ những kẻ lỡ lầm. Ngài đã thể hiện sự khôn ngoan trọn hảo ấy nơi Thập Giá và Phục Sinh, bởi duy nhất chỉ có lòng yêu thương, nhẫn nhịn và tha thứ mới có đủ năng lực chiến thắng sự dữ và cảm hóa các kẻ tội đồ:

… thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin…
… cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người…
 (1C 1:21; 1:25)

Tôi đã bỏ lỡ nửa cuộc đời quý báu Chúa ban hòng rong ruổi theo sự khôn ngoan phù phiếm hão huyền của thế tục. Hôm nay, nhờ vào lòng nhân từ khôn dò của Cha Trên Trời, tôi đã được vực dậy từ cõi chết, không phải để tiếp tục lạc lối vào nẻo đường xa rời Ngài nữa…

Giờ phút này, tôi không mong mỏi gì hơn là được cùng Đức Trinh Nữ Maria thốt lên lời “xin vâng” với mọi lệnh truyền khôn ngoan siêu vời của Thiên Chúa Ba Ngôi và cùng Thánh Phanxico Khó Khăn cất cao tiếng hát bài ca Hòa Bình:

Lạy Chúa từ nhân,
Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa
Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù,
Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục
Ðem an hoà vào nơi tranh chấp,
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm…

 05-2016

Hành trình tìm kiếm hạnh phúc và ơn chữa lành


Đây là một hồi ký thiêng liêng về rối loạn phổ tự kỷ, hành trình chữa lành và ý nghĩa của đau khổ và hạnh phúc. Bài viết mang góc nhìn đức tin Kitô giáo, suy tư về ân sủng, tự do và một tiến trình biến đổi tiệm tiến đòi hỏi sự cộng tác bền bỉ của con người — chứ không phải một phép lạ tức thời.

Hy vọng bài viết này có thể trở thành một món quà tinh thần cho các bậc phụ huynh đang đồng hành với con trong phổ tự kỷ, và cho bất cứ ai từng cảm thấy đời mình là một mảnh ghép lạc lõng — bởi dưới bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, ngay cả những mảnh ghép tưởng chừng “sai” ấy vẫn có thể được kết lại thành một bức tranh có ý nghĩa.

Ghi chú của tác giả 

Trải nghiệm trong bài viết này mang tính cá nhân và thiêng liêng, không nhằm thay thế các can thiệp y khoa đối với rối loạn phổ tự kỷ. Mỗi người trong phổ tự kỷ có một hành trình riêng, cần được tôn trọng và đồng hành phù hợp.

Một số chi tiết đã được thay đổi để bảo vệ quyền riêng tư; tôi chỉ chia sẻ hành trình nội tâm và kinh nghiệm đức tin, với lòng tôn trọng và thương cảm dành cho nạn nhân cùng gia đình họ.

Lời tựa

Tôi đã trải qua nửa đời người trong cô đơn, bất hạnh và nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc. Ban đầu, tôi đổ lỗi cho rối loạn phổ tự kỷ bẩm sinh và hoài phí biết bao công sức truy tìm cách “sửa chữa” bản thân. Sau cùng, tôi khám phá ra rằng không phải sự khác biệt tâm lý, mà chính lòng nhát đảm và đức tin yếu ớt mới là bức tường vô hình ngăn cản tôi chạm tới hạnh phúc chân thật. 

Niềm tin tuyệt đối cần phải có ấy, tôi chỉ đạt được sau một vụ án sát nhân… Không phải chi tiết bạo lực đã đánh thức tôi, mà chính là một nghịch lý lạ lùng — rằng một đời người tưởng như “đủ đầy” vẫn có thể kết thúc trong thảm kịch — đã làm bật tung cánh cửa nội tâm, mở ra cho tôi một nhận thức hoàn toàn mới về chân lý của hạnh phúc.

Như thế, hạnh phúc viên mãn của tôi hôm nay lại nảy sinh từ một biến cố bi thảm tột cùng — một mầu nhiệm khiến tôi vẫn còn bàng hoàng, bởi nó gắn liền với nỗi đau vô tận và mất mát khôn cùng của những gia đình liên quan.

Câu chuyện khởi đầu ở tuổi thơ — nơi những vết sẹo tinh thần được khắc ghi sâu đậm vào tiềm thức…

1. Tuổi thơ — Những vết thương sâu đầu đời

Ngay từ hồi còn rất bé, khoảng bảy, tám tuổi, tôi đã sớm linh cảm nơi mình những dấu hiệu khác lạ trong tương tác xã hội, khiến tôi trở nên dị biệt so với những đứa trẻ cùng trang lứa. Tôi chỉ ý thức rõ điều ấy sau khi đám bạn cùng trường và bọn trẻ láng giềng bắt đầu công khai châm chọc, xua đuổi, tẩy chay tôi, và gán cho tôi cái biệt danh là “con khùng”. Tuy còn quá bé để có thể hiểu được vì sao chúng bảo thế, tôi đã sớm cảm nhận một nỗi phiền não khổ đau âm ỉ và dai dẳng.

Tôi ngây ngô khóc lóc với mẹ tôi, mong được che chở vỗ về. Bà an ủi tôi: “Chúng nó nói bậy, con đừng tin”. Nhưng sau đó, khi tôi phạm lỗi trái ý bà, mẹ tôi đã mang chính tâm sự của tôi ra chì chiết và giễu cợt: “Ối! Một đứa hư hỏng như mày có bị trêu chọc thì cũng đáng đời lắm!”. Có lẽ mẹ chỉ vô tình, nhưng với tôi, đó là lưỡi dao nghiệt ngã đầu tiên — không rỉ máu nhưng xuyên thấu tâm can, để lại nỗi nhức nhối khôn nguôi, đeo đẳng tôi suốt nửa đời người.

Mãi đến thời gian gần đây, tôi mới biết mình thuộc một dạng nhẹ trong phổ tự kỷ (trước đây thường gọi là Asperger): trí tuệ bình thường, nhưng kỹ năng giao tiếp hạn chế, kèm theo một số biểu hiện rối loạn hành vi khác thường. Bức tranh cuộc đời càng thêm phức tạp khi tôi không có diễm phúc sống trong một mái ấm gia đình nguyên vẹn và không được thừa hưởng tình yêu thương đầy đủ của cả cha lẫn mẹ. Mẹ tôi, vì oán hận cha tôi đã bỏ rơi bà, thường xuyên tỏ ra lạnh nhạt và xa lánh tôi. Địa vị tôi càng bị hạ thấp thảm hại sau khi bà kết hôn và những đứa em cùng mẹ khác cha lần lượt chào đời. Thật ra, tôi không bị ngược đãi nhiều về thể xác, nhưng tinh thần tôi luôn bị nghiền nát dưới thái độ hờ hững ghẻ lạnh cùng những lời lẽ nhiếc móc cay độc.

Bấy nhiêu yếu tố tiêu cực cộng lại đã trở thành chất xúc tác, làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn phát triển và đẩy nhanh quá trình tiến triển của nó. Với rối loạn phổ tự kỷ, nếu không được can thiệp sớm mà còn phải chịu thêm hoàn cảnh bất lợi, khoảng cách khác biệt so với người bình thường sẽ ngày càng nới rộng theo thời gian. Chính vì vậy, trong khi hầu hết bạn bè đồng trang lứa vui hưởng cuộc sống êm đềm, vô tư lự, đầy tiếng cười rộn rã, thì thời ấu thơ của tôi là một chuỗi ngày dài bất hạnh, thê lương, đắm chìm trong u tối, ảm đạm và nước mắt. Người ta thường nhắc đến niềm hy vọng nơi tia sáng cuối đường hầm, nhưng tôi chỉ nhìn thấy một bóng đêm lạnh lẽo, mịt mùng, dày đặc bao trùm khoảng không gian quanh mình, không hề hé lộ dù chỉ một tia hứa hẹn mong manh nào về bình minh tươi sáng.

Giữa khung cảnh lạnh lẽo ấy, bà ngoại là người duy nhất dành cho tôi hơi ấm của yêu thương. Tuy nhiên, khoảng cách tuổi tác qua ba thế hệ khiến bà không đủ gần gũi để thấu hiểu các tâm sự thầm kín của tôi. Hơn nữa, bà sớm giã từ tôi ra đi; ở tuổi mười bốn, tôi mất đi chỗ dựa tinh thần cuối cùng, và cảm giác lẻ loi cô độc càng trở nên sâu hoắm. 

Thưở ấy, ở Việt Nam, rối loạn phổ tự kỷ chưa hề có tên gọi và cũng chưa hiện diện trong nhận thức xã hội. Vì vậy, những biểu hiện hành vi khác thường của tôi bị gán ghép bằng đủ thứ định kiến cay nghiệt — từ “tâm thần”, đến “bất trị”, thậm chí “vô luân”. Kẻ khó tính không ngại ngần biểu lộ ác cảm, thẳng thừng châm chích, sỉ nhục tôi ngay vào mặt. Người dễ dãi, tuy ngoài miệng tinh tế không nói gì, nhưng lẳng lặng ném cho tôi những ánh mắt ái ngại pha lẫn thương hại. Cả hai thái độ ấy đều như những mũi kim oan nghiệt cắm sâu vào tim, và tôi chỉ biết âm thầm nuốt nước mắt vào lòng để tự bảo vệ trước thế giới khắc nghiệt quanh mình.

2. Tuổi cập kê — Khát vọng được yêu thương trân trọng

Những vết thương thời ấu thơ không tự lành; chúng lớn lên cùng tôi và kết tinh thành một khát vọng sâu thẳm khi tôi bước vào tuổi cập kê. Thưở ấy, trong khi các bạn gái đồng niên bắt đầu mơ mộng về duyên tình đôi lứa, tôi chỉ thầm lặng nuôi dưỡng một ao ước rất đỗi đơn sơ: được nhìn nhận, được trân trọng. Từ đó trở đi, tôi hăng say lùng xục khắp nơi — tiếp xúc với đủ hạng người, đọc đủ loại sách vở — nhưng tuyệt nhiên không tìm được lời giải đáp thỏa đáng cho một nỗi trăn trở tưởng chừng rất giản đơn: vì sao mọi người không yêu thích tôi.

Tôi tập tễnh bắt chước cử chỉ, lời nói của người khác với hy vọng hòa nhập, nhưng càng cố gắng bao nhiêu, tôi càng trở nên vụng về và lố bịch trong mắt người ta bấy nhiêu. Thiện chí sửa mình của tôi chỉ được đáp trả bằng những ánh mắt giễu cợt lạnh lùng, lời chế nhạo chua cay và những cánh cửa lòng đóng sầm lại một cách phũ phàng. Cho đến một ngày, mọi nỗ lực tìm kiếm đều thất bại não nề. Bao nhiêu ước vọng yêu thương tan biến hoàn toàn, khi tôi chỉ đón nhận bấy nhiêu sự nhục mạ và chà đạp.

Tất cả những kinh nghiệm đau thương và tủi nhục của một quãng đời đáng lẽ cần đến yêu thương hơn bao giờ hết, lại bị tước mất quyền được nếm biết yêu thương chân thật là gì, theo ngày tháng, đã gặm nhấm tâm can tôi, xâu xé linh hồn tôi. Những nỗi xót xa thoáng qua dần chuyển thành cay đắng, và cuối cùng kết tụ thành một thứ ung nhọt mãn tính, lở loét và băng hoại đến mức không còn khả năng tự lành lặn. Những dòng lệ chua chát đã khô cạn, những hy vọng tràn đầy đã héo hắt và kết tủa thành nỗi trách hờn đắng ngắt. 

Tôi oán hận bản thân, tôi oán hận thế giới, tôi oán hận các đấng sinh thành, và tôi oán hận cả Đấng Tạo Hóa vì Ngài đã tạo nên hình hài tôi, thổi vào đó một linh hồn khát khao hạnh phúc, nhưng lại quên ban cho tôi một ngày vui trọn vẹn! Trong cơn đau đớn cùng tận, tôi đã từng điên rồ đến mức thầm ganh tỵ với những kẻ mất trí. Họ không biết suy nghĩ, nên dường như chẳng bao giờ biết đến khổ đau!

Quá khứ chìm trong bể khổ, hiện tại ngập trong nước mắt, tương lai mờ khuất trong đêm tối ảm đạm của chết chóc. Trước mắt tôi lởn vởn bóng ma u ám của Tử Thần, đang hăm hở vươn bàn tay xương xẩu đáng sợ về phía linh hồn mê man, rên xiết của tôi trong cơn hấp hối vô vọng. Đã nhiều lần tôi thoáng nghĩ đến việc kết thúc đời mình — nhưng vẫn ngần ngại chưa dám bước qua ranh giới ấy, chỉ vì một nỗi sợ hãi mơ hồ: không biết điều gì sẽ chờ đợi tôi sau ngưỡng cửa bí ẩn của sự chết.

3. Gặp gỡ Đức Kitô — Ánh sáng ban mai bắt đầu ló dạng

Giữa những ngày tháng đen tối cùng cực ấy, khi mọi lối đi dường như đã khép lại trên hành trình tìm kiếm yêu thương, Đấng mà tôi từng oán trách lại âm thầm gửi đến cho tôi những bàn tay cứu giúp bất ngờ. Ngài an bài cho tôi một người bạn gái thân thiết — người đã đối xử tử tế và kiên nhẫn bên tôi bất chấp mọi dị biệt. Sự hiện diện và thái độ không xét đoán, không phân biệt của cô là nguồn an ủi lớn lao, giúp tôi tiếp tục chịu đựng và không gục ngã. Tuy vậy, ảnh hưởng của cô chỉ dừng lại ở bình diện tinh thần; cô thiếu chiều sâu nội tâm nên không thể dẫn tôi đi xa hơn trên hành trình tâm linh.

Khi mười bảy tuổi, tôi làm quen và kết thân với một cô bạn Công giáo, người đã đưa tôi đến cuộc gặp gỡ mang tính định mệnh với Đức Kitô. Cô có lòng đạo rất đơn sơ, chỉ gói gọn trong kiến thức giáo lý căn bản và những kinh nguyện bình dân như Kinh Mân Côi. Cô không hô hào hay thuyết phục; trái lại, cô sống đức tin của mình bằng lời nói bình dị và những cử chỉ mộc mạc, thấm đượm tình yêu thương lân tuất của Cha Trên Trời. Chính nơi cô, tôi ngỡ ngàng lắng nghe tiếng gọi dịu ngọt đầu tiên của Đức Kitô và chập chững nhận diện Ngài (x Ga 1,39–42). Dù chưa hiểu thấu Đức Kitô là ai, tôi đã vội vã bám víu lấy Ngài — như kẻ sắp chết đuối vớ được chiếc phao cứu sinh duy nhất.

Bị cuốn hút mãnh liệt bởi ý niệm Thiên Chúa là Cha Yêu Thương, tôi một mình đăng ký học Giáo lý Tân Tòng. Ban đầu, chẳng ai ngỏ ý đỡ đầu, có lẽ vì người ta e ngại gánh nặng trách nhiệm khi phải đồng hành với một người bị xem là khác thường như tôi. Trong lúc bối rối, tôi cầu xin Đức Mẹ, và thật bất ngờ, một chị hoàn toàn lạ mặt đến bắt chuyện và ngỏ ý làm người đỡ đầu cho tôi. Chị cho tôi mượn quyển sách “Một tâm hồn” của Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Tôi lập tức say mê vị Thánh nhỏ bé ấy ngay từ những trang đầu và chọn Ngài làm Thánh Quan Thầy. Mọi việc diễn ra như một chuỗi các biến cố tưởng chừng ngẫu nhiên. Sau này, tôi mới dần dần vỡ lẽ: “Con đường thơ ấu thiêng liêng” chính là lối đi Chúa đã dọn sẵn cho tôi ngay từ buổi ban đầu gặp gỡ, hầu dẫn đưa tôi đến chân trời hạnh phúc chân thật và bền vững.

Với việc chính thức đón nhận Đức Kitô là Ánh Sáng Thế Gian, tôi đã rụt rè chạm vào tia nắng ấm áp đầu tiên của buổi hừng đông đang ló dạng. Tuy nhiên, bầu trời quanh tôi vẫn chưa bước hẳn vào buổi ban mai rực rỡ. Tôi còn bị giam hãm trong khung cảnh tranh tối tranh sáng, trong khoảnh khắc giao thời giữa ngày và đêm. Hành trình đức tin của tôi chỉ mới khởi sự. Cuộc gặp gỡ ban đầu đã mở ra một chân trời hy vọng, nhưng tận sâu trong tiềm thức, những ngăn trở tâm linh vẫn còn đó, chờ ngày được tháo gỡ.

4. Niềm tin mong manh và bức tường vô hình với Cha Trên Trời

Qua các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, tôi có dịp học hỏi và nhận diện rõ ràng hơn Dung Mạo của Đấng đã giang cánh tay uy quyền nâng tôi dậy từ đáy vực sâu của sự chết tâm linh. Thế là tôi cuồng nhiệt băng mình vào Cung Lòng Ngài như thiêu thân lao vào ánh sáng, như kẻ bị tiếng sét ái tình đánh ngang tai. Nhưng tôi sớm khựng lại và dội ngược trở ra, khi tôi lờ mờ linh cảm về sự tồn tại của những bức rào chắn bí ẩn sừng sững trong tâm linh, khiến mối tương quan giữa tôi và Thiên Chúa không thể tiến triển xa hơn và thăng hoa trọn vẹn.

Bấy giờ, tôi chưa hiểu rõ nguyên do. Mãi về sau, khi từ từ suy gẫm, tôi mới nhận ra có ba chướng ngại chính. 

Thứ nhất, trong ý thức, tôi luôn khao khát Thiên Chúa, nhưng trong tiềm thức, tôi không thể nào tin Ngài thật sự là “Cha” theo đúng nghĩa của ngôn từ ấy. Cả cha lẫn mẹ trần thế đều bỏ rơi tôi; mọi người xung quanh, nếu không hà khắc ra mặt, thì cũng âm thầm thương hại. Làm sao một người chưa bao giờ nếm trải yêu thương chân thật, có thể tin tưởng vào sự tồn tại của thứ tình yêu ấy trên đời?

Thứ hai, trong ý thức, tôi được dạy dỗ phải phó thác vào Chúa, nhưng trong tiềm thức, tôi luôn âm thầm hờn trách và chống đối, không chấp nhận sự an bài của Ngài. Tôi không hiểu vì sao Chúa tạo ra tôi trong tình trạng rối loạn oan nghiệt và gia cảnh đổ vỡ trái ngang, rồi “đem con bỏ chợ”, mặc tôi đơn thân chới với vùng vẫy giữa dòng nước xoáy buốt giá của nhân thế bạc bẽo, để cho cuộc đời tôi đan kết thành chuỗi ngày dài đen tối tuyệt vọng giữa tiếng kêu thống thiết bi thương: “Thật đáng nguyền rủa ngày tôi được sinh ra. Ngày mẹ tôi sinh ra tôi không đáng được chúc lành.” (Gr 20,14). Vậy mà Ngài dường như vẫn “ngủ” (x Mt 8,24), cứ như thể Ngài chẳng hề có mắt và có tai?

Thứ ba, vốn chịu quá nhiều thiệt thòi và mất mát, tôi choáng váng trước những lời giảng dạy rất đỗi quyết liệt của Chúa Giêsu, đặc biệt là: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con” (Mt 5,43–45). Tất nhiên, tôi không dễ dàng đồng thuận với một yêu sách dường như vừa vô lý vừa bất công như thế. Kết quả là một cuộc tâm chiến dữ dội đã bùng nổ, khi những thương tổn tâm linh vẫn tiếp tục âm ỉ và hoại tử, dưới gót chân dẫm đạp vô tình của chính người thân trong gia đình.

Trong khi ấy, cuộc sống thực tế của tôi và tương quan của tôi với thế nhân ngày một trượt dốc. Tuy tôi thuộc mức độ nhẹ trong rối loạn phổ tự kỷ, có khả năng nhận thức bình thường, nhưng các biểu hiện rối loạn hành vi kèm theo đã làm cho kỹ năng giao tiếp hạn hẹp của tôi càng thêm suy giảm nghiêm trọng. Tệ đến mức bất cứ ai, chỉ cần gặp tôi lần đầu và tiếp xúc ít phút, đã dễ dàng nảy sinh ác cảm. Thời thơ ấu, tôi bị hầu hết mọi người xung quanh chế nhạo, ruồng rẫy và cô lập. Bước vào tuổi trưởng thành, tôi bị mọi thành phần trong xã hội xa lánh — kẻ lộ liễu kỳ thị, ghét bỏ; người ngấm ngầm chê trách, không tín nhiệm. Ở lứa tuổi phải tự lập thân, tuy có học thức, tôi vẫn khó tìm được việc làm; hoặc nếu có, thì thường không giữ được lâu. 

Nỗi tủi nhục thơ ấu nay đã trở thành một vấn đề sinh tồn, đụng chạm trực tiếp đến chính sự hiện hữu của tôi. Lòng đạo vừa chớm nở bị thử thách dữ dội trước hồi ức đau thương, thực tế khắc nghiệt, tiềm thức oán giận và những ý tưởng nổi loạn. Hành trình đức tin vì thế trở nên mong manh: hừng đông đã xuất hiện, nhưng nẻo đường tiến về ánh sáng vẫn còn đầy chông gai.

5. Cô độc tuyệt đối giữa lòng Hội Thánh

Niềm tin non nớt sớm bị cô lập, tách khỏi cộng đoàn Dân Chúa, khi rối loạn phổ tự kỷ oan nghiệt vẫn tiếp tục đè nặng lên đời tôi. Tôi lầm lũi bước đi một mình một bóng trên đường đời, trong lẻ loi vô hạn và một thứ cô độc gần như tuyệt đối — không những giữa thế giới phàm tục, mà ngay cả trong Hội Thánh Chúa. Kể từ ngày được thanh tẩy, tôi chưa từng có cảm giác là một thành viên đúng nghĩa của cộng đoàn. Không ai đủ khả năng dò thấu tận tường những uẩn khúc bí ẩn của đời tôi, hầu có thể linh hướng và đồng hành.

Lúc ấy, rối loạn phổ tự kỷ còn là một khái niệm hoàn toàn xa lạ tại Việt Nam. Trí tuệ sáng suốt của tôi khiến người ta khó chấp nhận rằng tôi thuộc một dạng rối loạn phát triển. Quan niệm phổ biến cho rằng chỉ có những kẻ “ngốc”, “khờ”, hay “mất trí” mới có vấn đề trục trặc về đầu óc. Vì vậy, những hành vi khác lạ của tôi thường xuyên bị quy chụp là thiếu đạo đức, thiếu giáo dục. Những phản ứng tự phát ấy xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, chứ không hẳn từ bản chất độc ác. Nhiều lần tôi bị mắng nhiếc, sỉ vả ngay trong khuôn viên thánh đường — một nghịch cảnh đau xót đối với đức tin yếu kém của tôi khi ấy.

Chỉ vài người hiếm hoi không bày tỏ thái độ phán xét khắt khe, trong đó có cha thiêng liêng, mẹ đỡ đầu và cha mẹ của chồng mẹ tôi — những người Công giáo sốt sắng chưa bao giờ tỏ ra kỳ thị hay khinh miệt tôi. Lúc ấy, tôi đã vô tình xem sự hiện diện và nâng đỡ âm thầm nhưng quý giá ấy như điều hiển nhiên: gần gũi, thân thiết mà chưa đủ nhận thức để trân quý đúng mực. Trái lại, tôi lại mải mê thần tượng hóa những người không chấp nhận, thậm chí xem thường mình, và chính sự lệch hướng ấy đã khoét sâu thêm cảm thức bị bỏ rơi và cô độc giữa cộng đoàn.

Trong bối cảnh bi kịch ấy, sinh ra trong tình trạng bất thường ngoài ý muốn, tôi không được nâng đỡ ủy lạo như lẽ ra phải có; thay vào đó, phần đông buông lời chê trách trực diện hoặc ném vào tôi những ánh mắt hoài nghi lặng lẽ. Thứ định kiến trớ trêu ấy dai dẳng đeo bám lấy tôi, không ngừng đày đọa tinh thần tôi như một bản án vô hình, theo năm tháng ngày một trở nên chướng ngại chính yếu, và cuối cùng hóa thành cớ vấp phạm lớn nhất đối với tôi.

Trái với niềm mong đợi thầm lặng ban đầu của tôi, Thiên Chúa dường như đã ngoảnh mặt trước nỗi bất hạnh cùng cực ấy, bỏ mặc tôi bị vùi dập tứ bề giữa dòng nước xoáy đầy phong ba, đoạn trường do rối loạn phổ tự kỷ nghiệt ngã tạo ra: “Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng, đêm van Ngài mà cũng chẳng yên.” (Tv 22,3). Ngài có đủ uy quyền làm cho kẻ chết sống lại, nhưng vẫn dường như làm ngơ trước một vấn đề rất hiện sinh cho sự sinh tồn của tôi, và nhất quyết đòi hỏi nơi tôi lòng tin tuyệt đối như đã có nơi Tổ phụ Abraham: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành.” (St 12,1–2). Tuy nhiên, tôi không có được lòng can đảm mẫu mực ấy, để dám dấn mình vào nẻo đường vô định, vô cùng đích, với điểm tựa duy nhất là bảo chứng quan phòng của một Thiên Chúa Vô Hình.

Rồi tôi rời khỏi xứ sở Việt Nam, sang sinh sống ở nước ngoài. Nơi đất khách quê người, tôi bị sốc trầm trọng khi bước vào những thánh đường nguy nga đồ sộ mà lạnh lẽo, vắng bóng tín đồ lai vãng. Bị tách khỏi khung cảnh thiêng liêng sốt sắng quen thuộc, tôi phải đơn độc đương đầu với cuộc sống tự lập giữa một xã hội vô thần thực tiễn. Tôi bị ném vào giữa lòng một thế giới không phủ nhận sự tồn tại của Đấng Tạo Hóa Vô Hình, nhưng thờ ơ trước sự hiện diện của Ngài, tự mãn và khép kín trong những mục đích hữu hình, sẵn có trong tầm với mà mong manh chóng qua. Trong bối cảnh ấy, lòng đạo yếu kém của tôi ngày càng nao núng và chao đảo. Sự cô độc tâm linh kéo dài dần trở thành bước đệm đẩy tôi vào con đường đi hoang.

6. Đi hoang — Linh hồn sa vào chốn hỏa ngục trần gian

Nơi xứ lạ, tôi tình cờ gặp gỡ cha ruột và ngỡ ngàng đối diện với người cha bộc lộ trọn vẹn lòng thương yêu dành cho tôi. Mặc dầu vậy, niềm vui ngọt ngào của tình phụ tử trùng phùng một cách bất ngờ đã sớm trở nên chua chát, khi cha tôi nhanh chóng nhận ra những dấu hiệu khiếm khuyết trong kỹ năng giao tiếp nơi tôi. Cũng như bao người khác, ông khăng khăng cho rằng tôi là kẻ bướng bỉnh, cố chấp và thiếu ý chí cầu tiến. Với tình thương vô bờ của một người cha, ông đã dành rất nhiều thời gian trò chuyện và khuyên nhủ tôi. 

Tuy nhiên, trái ngược với kỳ vọng của cha tôi, những lời chỉ dạy tận tâm ấy lại làm cho lòng tin vốn đã suy yếu của tôi càng thêm khủng hoảng. Ông phác họa một viễn tượng tương lai vô cùng đen tối nếu tôi không chịu thay đổi bản thân — một đòi hỏi hoàn toàn vượt quá khả năng của tôi, bởi mọi cố gắng sửa mình chỉ khiến tôi thêm lố bịch, kệch cỡm trong mắt người đời. Cuối cùng, khi mang tôi ra so sánh với những đứa em cùng cha khác mẹ may mắn và thành đạt, ông đã vô tình gây nên nơi tôi một tổn thương sâu sắc, không kém gì mẹ tôi, khoét sâu thêm nỗi mặc cảm tự ti ray rứt sẵn có trong lòng tôi.

Bao nhiêu giông tố ba đào dồn dập giáng xuống khiến tôi ngã quỵ trong cơn cuồng trí loạn tâm, bế tắc tuyệt vọng đến mức mất hẳn niềm tin tưởng và cậy trông vào Thiên Chúa. Rời xa khỏi vòng tay yêu thương của Ngài, tôi bắt đầu nuôi dưỡng những ảo tưởng lệch lạc về chính mình, say sưa học đòi những phương thế khôn ngoan của thế tục, hòng xây dựng cho mình một thứ hạnh phúc mong manh và hư hoại. Chẳng mấy chốc, tâm hồn tôi đã trượt nhanh trên con dốc bại hoại và lao thẳng xuống hố sâu diệt vong của dục vọng thấp hèn và đam mê xấu xa. 

Hoa trái độc địa của lựa chọn lầm lạc tách khỏi Thiên Chúa là sự mục ruỗng thối tha đến tận gốc rễ trong tương quan với tha nhân, khi tôi nung nấu lòng ganh ghét tồi bại và những toan tính trả đũa hiểm ác, một khi quyền lợi riêng tư bị đe dọa. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể tin rằng tâm hồn mình từng có lúc biến dạng đến mức dám dung dưỡng cả ý định sát nhân, vào lúc các bám víu điên cuồng có nguy cơ vuột khỏi tầm tay. Hóa ra, ranh giới giữa tội phạm và công chính đôi khi mong manh đến mức chỉ cần một khoảnh khắc thiếu ơn gìn giữ. Thật là sự hư hỏng tận căn, sự vong thân tận gốc của một kẻ “có gì mà đã không nhận lãnh”, lại “vênh vang như thể đã không nhận lãnh” (1Cr 4,7).

Hệ lụy kinh hoàng tất yếu của lối sống dị dạng, xa rời Chân–Thiện–Mỹ, là làm nô lệ cho Thần Tối Tăm. Đó là những ngày dài lê thê vô định hướng và những đêm trường thăm thẳm đầy ắp ác mộng. Tôi cố xua tan mọi thứ bất ổn tinh thần bằng cách lẩn tránh Thiên Chúa một cách triệt để, trong lời nói, hành vi và cả suy tưởng. Nhưng làm sao tôi có thể quên lãng Ngài, vì Ngài là Đấng hằng bao bọc mọi ngày đời của tôi. Ngài vẫn hằng hữu trong các ngóc ngách thâm sâu u uẩn nhất của tâm hồn tôi, kiên nhẫn im lặng mà chờ đợi: “Ði mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó; nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.” (Tv 139,7–8). 

Chưa đến ba mươi tuổi, tôi đã sợ chết — một thứ sợ hãi bệnh hoạn của một thụ tạo được tiền định để vui hưởng Tôn Nhan Đấng Tạo Thành, lại khiếp đảm khi phải trực diện với Ngài trong buổi phán xét cánh chung. Nói chính xác hơn, đó là quãng đời của khóc lóc và nghiến răng, dưới ngọn lửa thiêu đốt của một thứ “hỏa ngục” trần gian. Thời gian ấy quả là những ngày tháng đen tối nhất của cuộc đời tôi — còn đen đặc và khốc liệt hơn cả một tuổi thơ thiếu vắng yêu thương và chưa từng biết đến Danh Thánh Chúa.

7. Cha Trên Trời sai hai “thiên thần” tìm kiếm đứa con hoang

Sau những năm tháng lạc lối, khi mọi nỗ lực tự cứu đã cạn kiệt, một chuỗi gặp gỡ tình cờ đã dần dần kéo tôi trở về, như người con hoang đàng năm xưa. Tuy nhiên, khác với dụ ngôn, tôi không thể tự mình bước về nhà Cha. Quá kiệt sức trên đường đời đầy gai chông và phũ phàng, tôi không còn chút sức lực nào, dù chỉ để lê lết thân tàn trên mặt đường bùn nhầy mà quay ngược về với Ngài. Bao nhiêu lần, tôi tự nhủ thầm: “Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha.” (Lc 15,18). Mặc dầu vậy, quán tính của một thứ mặc cảm tội lỗi khốn khổ cứ trì níu bước chân tôi: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.” (Lc 15,18–19). Và rồi, một lời thức tỉnh đầy an ủi đã vang lên: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?” (Rm 8,35). Thiên Chúa đã không bỏ rơi tôi. Ngài là Đấng đã yêu thương tôi từ ngàn đời và từ muôn thuở; chính Ngài là Đấng đã cất bước tìm kiếm tôi. Ngài đã sai hai “thiên thần” đến bồng bế tôi về.

Một linh mục Dòng Tên tình cờ học chung khóa hè ở đại học và trở thành bạn học của tôi. Người thứ hai là một chủng sinh vừa được nhận vào Chủng Viện. Trong lúc chờ nhập học, thầy không có chỗ ở và tình cờ trở thành bạn chung nhà với tôi. Người bạn đời tương lai của tôi, tuy là người bên lương, cũng gián tiếp góp phần cảm hóa tôi, bằng tấm lòng chân thành, trong sáng và ngay thẳng của anh. Chính nhờ bối cảnh đặc biệt ấy, lần đầu tiên trong đời, tôi bỡ ngỡ đón nhận ánh mắt cảm thông chân thật và sâu xa của con người hữu hình; qua đó, tôi hoan hỉ nhận ra tia nhìn tha thứ bao dung của Thiên Chúa Vô Hình.

Đó là ơn tha thứ hoàn toàn nhưng không của Đấng là Cha Nhân Hậu và Thương Xót, như người cha trong dụ ngôn Tình Phụ Tử, ngày ngày nhẫn nại ngóng trông con và khi gặp lại đứa con hư hỏng trong tình trạng rách nát tả tơi, ông không hề trách móc, chất vấn hay hạch tội, trái lại, “ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm chầm anh ta và hôn lấy hôn để.” (Lc 15,20). 

8. Trở về — Cánh cửa hạnh phúc đầu đời hé mở

Cuộc hòa giải với Cha Trên Trời không chỉ băng bó những vết thương vẫn âm ỉ nhức nhối trong tâm hồn tôi; nó còn mở ra một lối đi mới, nhẹ nhàng mà vững chắc, dẫn tôi từng bước rời khỏi bóng tối của những năm tháng lầm lạc. Bàn tay chữa lành nhiệm mầu của Ngài đã khai thông những góc khuất sâu kín trong tiềm thức tôi: nỗi trách hờn ngấm ngầm đối với Thiên Chúa dần nhường chỗ cho niềm tín thác chân thành; mặc cảm tội lỗi day dứt bắt đầu tan rã trước tia nhìn xót thương của Cha Trên Trời. Từ khoảnh khắc ấy, hành trình trở về không còn là nỗ lực đơn độc của riêng tôi nữa, mà là cuộc đồng hành âm thầm nhưng kiên trì của chính Thiên Chúa — Đấng đã tìm thấy tôi trước khi tôi kịp tìm lại Ngài.

Trở về Nhà Cha, cánh cửa hạnh phúc đầu đời dần hé mở khi tôi được đón mừng nồng nhiệt bằng một chuỗi ân huệ lớn lao. Rối loạn phổ tự kỷ chưa được chữa lành hoàn toàn, nhưng đã giảm bớt phần nào, đủ để tôi có thể lập gia đình, hưởng cuộc hôn nhân đầm ấm và trúng tuyển vào công chức, làm việc trong một môi trường ổn định và dễ chịu hơn. Hạnh phúc bắt đầu mỉm cười với tôi; mặc dầu vậy, vẫn chưa thật sự trọn vẹn. Tình nghĩa phu thê đong đầy, tuy là một nhân tố quan trọng giúp tôi duy trì sự cân bằng tâm lý, nhưng vẫn chưa đủ để thỏa mãn cơn đói khát yêu thương vô hạn nơi tôi. Mặt khác, các rào cản tâm linh vẫn tồn tại như một bức màn u ám, ngăn cách tôi với Đấng là Suối Nguồn của Yêu Thương: “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa. Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống. Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?” (Tv 42,2–3).

Rồi đến những ngày tôi thai nghén và sinh hạ bé gái đầu tiên. Thật kỳ diệu thay, bức rào ngăn trở thứ nhất giữa tôi với Cha Trên Trời đã bắt đầu rạn vỡ một cách nhiệm mầu. Lần đầu tiên trong đời, tôi có diễm phúc nếm trải hương vị ngọt ngào và tinh tuyền của tình yêu thương chân thật. Điều lạ lùng là tình yêu ấy không đến theo cách tôi từng mơ ước. Trước đây, tôi khao khát được yêu thương nhưng chỉ bị nghiền nát dưới những bàn chân vô cảm. Lần này, chính bản năng làm mẹ đã thôi thúc tôi tự nguyện trao cho sinh linh bé nhỏ kia tình thương mến vô bờ, vô điều kiện, bằng toàn bộ con người của mình. Nhờ việc cho đi không toan tính và vô vị lợi ấy, tôi bắt đầu đo lường được các chiều kích bao la nơi tình yêu thương của Người Cha Thiên Quốc, Đấng đã “đếm từng cọng tóc” trên đầu tôi (Mt 10,30), và xác tín rằng tình yêu ấy thật sự hằng hữu.

Vài năm sau, thêm một bé trai chào đời. Cứ thế, tôi say sưa tận hưởng hồng phúc làm mẹ; qua đó, Dung Mạo Yêu Thương đích thật của Cha Trên Trời được mạc khải ngày một trọn vẹn hơn cho tôi. Bản năng mẫu tử thiêng liêng không những góp phần cải thiện mối tương quan giữa tôi và Thiên Chúa, mà còn giúp tôi dần dần giải tỏa nỗi trách hờn âm thầm, cay đắng đối với người mẹ trần thế khô cằn, lạt lẽo. Câu châm ngôn dân gian: “Có sinh con, mới biết lòng cha mẹ” quả không sai. Mãi đến khi đích thân dấn mình vào cuộc sống lứa đôi và gánh vác vai trò làm mẹ, tôi mới thật sự cảm thông với những nỗi thống khổ nhọc nhằn và vất vả thầm lặng của người mẹ cả đời bẽ bàng duyên phận, và nghiệm ra rằng bà đáng thương hơn là đáng trách. Qua trải nghiệm ấy, Cha Trên Trời đã dần dà mở lòng tôi để có thể tha thứ và chấp nhận mẹ mình như bà vốn là.

9. Một tội ác tày đình và chiếc chìa khóa nghịch lý

Giữa lúc ấy, một biến cố dữ dội bất ngờ đã xảy ra và trở thành một mầu nhiệm lớn lao của Thiên Chúa dành cho riêng tôi. Cho đến tận hôm nay, mỗi lần suy gẫm lại, tôi vẫn còn bàng hoàng đến sững sờ.  Nhiều độc giả có lẽ sẽ cho rằng những đoạn kế tiếp là sản phẩm của một trí tưởng tượng điên rồ. Bởi lẽ, thay vì dùng gương sáng các Thánh nhân, Thiên Chúa đã cho phép — trong sự tôn trọng trọn vẹn tự do con người — một tội ác tày đình của nhân loại trở thành chiếc chìa khóa nghịch lý, mở tung cánh cửa tâm linh của tôi và từng bước tháo gỡ ba bức rào cản đồ sộ giữa tôi và Ngài.

Sự kiện ấy là một vụ án sát nhân tại Việt Nam, được tôi theo dõi từ nước ngoài qua các nguồn tin mạng, gây mất mát khôn cùng cho nhiều người và làm chấn động dư luận. Đối với tôi, biến cố ấy đã tạo nên một cú thức tỉnh tâm linh sâu sắc, đủ sức xoay chuyển toàn bộ hướng đi cuộc đời.  Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc với nỗi mất mát không gì có thể bù đắp được của nạn nhân và gia đình họ.

Điều khiến tôi sững sờ không phải là bản chất tàn bạo của hành vi gây án, mà là một nghịch lý lạ lùng đi kèm: người gây án không mang dáng dấp của hình mẫu tử tội điển hình. Anh xuất thân từ một gia đình nề nếp đạo hạnh, có mái ấm chan chứa yêu thương, kỹ năng hoạt ngôn khéo léo và nhiều tài năng thiên phú — những điều tôi từng ấp ủ ao ước suốt nửa đời người. Vậy mà kết cục đời anh lại hóa ra bi thảm hơn cả cuộc đời tôi — một kẻ thiếu thốn hầu như tất cả những điều ấy. 

Chính nghịch lý ấy — một con người sở hữu mọi điều tôi khao khát lại sa vào một kết cuộc bi đát — đã làm đảo lộn tận căn nhãn quan của tôi về hạnh phúc. Nó buộc tôi phải đối diện lại với những dấu hỏi hiện sinh sâu thẳm về đau khổ và sự dữ, cũng như mầu nhiệm Thiên Chúa quan phòng: từ những thực tại tàn khốc nhất, Ngài vẫn có thể làm phát sinh ân sủng để thức tỉnh một tâm hồn và mở ra nẻo đường hoán cải toàn diện — trước hết nơi người gây án, rồi đến chính tôi. 

10. Chân lý giản đơn của hạnh phúc vĩnh cửu 

Biến cố năm ấy, tuy xảy ra nơi quê nhà khi tôi đang sống ở nước ngoài, đã dần dà hé lộ cho tôi một chân lý vốn hiển nhiên về hạnh phúc — điều mà ít ai nhận ra. Nói nôm na theo cách bình dân, hạnh phúc đích thật không phải là chiếm đoạt hay sở hữu mọi thứ mình mong muốn, mà là biết bằng lòng và đón nhận tất cả những gì Thiên Chúa ban cho mình. Lòng ham muốn của con người vốn vô đáy khôn dò. Nếu cứ đợi cho đến khi đạt được mọi ước nguyện, mình mới hạnh phúc, thì sẽ không bao giờ chạm tới hạnh phúc. Diễn tả theo đức tin Kitô giáo, hạnh phúc đích thật chính là khả năng nhận chân rằng toàn thể sự hiện hữu của mình là ân huệ, là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, và biết cảm tạ Ngài trong tâm tình tri ân sâu thẳm.

Tôi đã mất nửa cuộc đời, lao đao nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc, để rồi cuối cùng đi đến một khám phá hết sức đáng kinh ngạc. Hóa ra hạnh phúc đích thật rất giản đơn — giản đơn đến mức trí khôn phàm nhân không đủ sức giác ngộ, bởi con người thường cố tình phức tạp hóa một thực tại vốn tự nó đã rất đỗi mộc mạc. Hạnh phúc nằm ngay trong tầm mắt, mà lắm phen người ta mù tối, không nhìn thấy, lại mê mải vươn tay về tận cõi hư không. 

Từ đó, tôi mới nghiệm ra vì sao Nước Trời chỉ dành cho những kẻ có tâm hồn thơ ấu (Mt 19,14), và vì sao Chúa đã định hướng sẵn cho tôi “Con đường thơ ấu thiêng liêng”. Bởi lẽ, chỉ có tâm hồn trẻ thơ mới mộc mạc đủ, đơn sơ đủ, để thấu suốt mọi chiều kích sâu thẳm của ý niệm hạnh phúc bình dị. Tôi đã “thức khuya hay dậy sớm, khó nhọc làm ăn cũng hoài công” (Tv 127,1–2), hùng hục săn lùng một cách vô vọng các phương cách trần thế hòng tự kiến tạo cho mình thứ hạnh phúc phù du và giả tạo. Rốt cuộc, tôi mới vỡ lẽ rằng tất cả bí quyết để đạt đến hạnh phúc viên mãn đều được gói trọn trong hai tiếng “xin vâng” đơn sơ của Đức Mẹ (Lc 1,38) và trong thái độ lắng nghe bình dị của Thánh Nữ Maria Bêtania (Lc 10,38–42).

Sau vụ án năm ấy, cuộc đời của tôi đã thực sự lật sang một trang mới, mở ra những tháng ngày hạnh phúc bất tận và bình an sâu lắng. Bao nhiêu vết thương lòng rỉ máu, những ung nhọt lở loét, nhức nhối đến tận xương tủy, tưởng chừng không một bàn tay nào có thể băng bó hay liều thuốc nào có thể xoa dịu, nay đã được chữa lành cách nhiệm mầu. Ngay cả những vết sẹo sâu hoắm cũng theo ngày tháng dần phai mờ, và không còn để lại sức ám ảnh nào.

Trước kia, tôi mải miết quay cuồng trong nỗ lực tìm kiếm phương thế chữa trị rối loạn phổ tự kỷ bẩm sinh quái ác kia; thì giờ đây, tôi không còn xem điều ấy là cần thiết theo nghĩa cũ nữa. Với ơn Chúa, tôi không còn nhìn nó như căn nguyên gốc rễ của những bất hạnh trái ngang trong đời mình. Ngược lại, tôi dần dần ý thức ra rằng đó chính là một ân huệ cao trọng Chúa ban, là lộ trình tuyệt hảo Chúa dùng để dẫn đưa con thuyền đời tôi cập bến hạnh phúc viên mãn. Tôi đơn sơ thưa với Ngài: “Nếu đây là ý Chúa, nếu những nghịch cảnh trái ý và rối loạn phổ tự kỷ thật sự nằm trong chương trình yêu thương Chúa đã hoạch định cho con, xin hãy giúp con biết chấp nhận và đủ sức vượt qua.” Giờ phút này, tôi chỉ cần có Chúa duy nhất trong đời, bởi: “Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc?” (Tv 16,2). Ngài chính là Nguồn Mạch của Hạnh Phúc Vĩnh Cửu, là viên ngọc quý mà tôi sẵn sàng đánh đổi mọi gia sản trần thế để được sở hữu (Mt 13,45–46).

11. Ơn chữa lành tiệm tiến — Ân sủng Thiên Chúa và cộng tác loài người

Theo quan điểm của y học hiện đại, rối loạn phổ tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển bẩm sinh, hiện vẫn chưa có phác đồ điều trị dứt điểm. Bệnh nhân khó có thể tự mình chữa khỏi, vì đây là một tình trạng khác biệt nơi não bộ — trung tâm điều khiển mọi cơ chế hoạt động của con người. Sự can thiệp và hỗ trợ chuyên môn của bác sĩ tâm lý, kết hợp với sự đồng hành nhẫn nại và hiểu biết của người thân, thường chỉ giúp cải thiện một phần các kỹ năng sống. Tương tự như một trẻ gặp khó khăn phát triển cần được hỗ trợ, nếu kiên trì và được hướng dẫn tận tình, em có thể tiến bộ đáng kể, nhưng rất hiếm khi có thể đạt tới mức phát triển vượt trội.

Lạ lùng thay! Chính lúc tôi chấp nhận vâng phục trọn vẹn kế hoạch quan phòng của Thiên Chúa và buông bỏ mọi bám víu hư ảo trong cuộc đời, cũng là lúc Ngài khấng ban cho tôi ơn chữa lành đích thực — khởi sự từ bình diện tâm linh và từng bước lan tỏa sang lãnh vực tâm lý. Tuy nhiên, đó không phải là một biến đổi tức thời, mà là một tiến trình chuyển hóa tiệm tiến, điều mà mãi về sau tôi mới dần dần thấu hiểu.

Cốt lõi của rối loạn phổ tự kỷ, tựu trung, nằm ở sự thiếu khả năng tự học hỏi và tự điều chỉnh qua các tương tác với tha nhân — một năng lực mà người bình thường có cách tự nhiên, còn nơi tôi thì gần như vắng bóng. Phép lạ mà tôi lãnh nhận chính là việc năng lực nền tảng ấy được ban lại, trong khi những khó khăn giao tiếp vẫn còn đó. Bởi ân huệ này được trao cho tôi khi đã trưởng thành, tôi buộc phải bắt đầu gần như từ con số không, như một đứa trẻ chập chững tập đi. Tôi phải tự mày mò, thử nghiệm, vấp ngã, suy xét lại và từng bước tự cải tiến trong các tương tác hằng ngày.

Chính trong sự cộng tác bền bỉ ấy với ân sủng ban đầu, những giới hạn do rối loạn phổ tự kỷ nơi tôi mới dần được tháo gỡ; các mối quan hệ cùng mọi khía cạnh đời sống — từ gia đạo đến công việc — từng bước đi vào hài hòa và ổn định hơn, không phải bằng nỗ lực thuần túy nhân loại, mà trong quyền năng của ơn thánh hóa.

Như thế, ơn chữa lành diễn ra cách tiệm tiến nhưng có thật, đối với một dạng rối loạn phát triển mà y học hiện đại phải bó tay, chính là sự ứng nghiệm nhiệm mầu cho lời khẳng định của Chúa Giêsu năm xưa: “Nếu con tin, con sẽ thấy vinh quang của Thiên Chúa.” (Ga 11,40). Và đúng như lời Đức Maria: “Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48). Sau bao lần hèn nhát trốn chạy, cuối cùng tôi đã có đủ dũng khí để cùng với Đức Trinh Nữ đồng thanh thưa lên hai tiếng “xin vâng” (Lc 1,38), và mở rộng tâm hồn đón nhận bao hồng phúc chan chứa từ Đấng Toàn Năng (Lc 1,49). Chính những ân huệ cao cả ấy đã làm nên phép lạ lớn nhất của đời tôi.

Hành trình chữa lành của tôi chính là một bản hòa ca giữa Ân Sủng và Tự Do. Thiên Chúa ban ân sủng, nhưng Ngài không thay thế con người; Ngài mời gọi con người cộng tác. Phần của Ngài là quyền năng chữa lành và ân huệ biến đổi; phần của tôi là tiếng “xin vâng” khiêm hạ, sự kiên trì học hỏi từng ngày, và lòng tín thác phó dâng. Ân sủng của Ngài như dòng nước mát không bao giờ cạn; còn sự cộng tác của tôi chỉ như đôi bàn tay nhỏ bé úp lại để hứng lấy từng giọt. Tôi không thể tạo ra dòng nước, nhưng có thể chọn mở lòng đón nhận.

12. Ý nghĩa đích thật của đau khổ và sự dữ

Nỗi thắc mắc cổ xưa vẫn luôn day dứt: vì sao một Thiên Chúa Toàn Thiện lại cho phép sự dữ tồn tại, thậm chí được tự do hoành hành như thể chính Ngài không hề hiện hữu? Vì sao những kẻ gian ác cứ nhởn nhơ sống trong an lành, trong khi bao kẻ công chính lại phải ngậm thảm nuốt sầu? Đây cũng là dấu hỏi quay quắt của nhân loại mọi nơi, mọi thời đại, và đồng thời là mối trăn trở sâu thẳm trong lòng tôi. 

Biến cố bi thương ấy đã mang đến cho tôi một lời giải đáp, không dễ đồng thuận bằng lý trí thuần túy. Còn sự dữ nào ghê gớm hơn việc cướp đi mạng sống con người? Thế nhưng, từ đỉnh cao của một tội ác kinh hoàng, Thiên Chúa đã mở ra cho tôi con đường hoán cải, giải thoát tôi khỏi chốn ngục tù nội tâm của đau khổ và tuyệt vọng — không phải vì sự dữ tự nó sản sinh ra điều tốt lành, mà vì quyền năng và lòng thương xót của Ngài vượt thắng mọi sự dữ. Quả thật, “ý định của Chúa, nào ai biết được” (Kn 9,16–17), một nghịch lý vượt quá khả năng suy luận và thấu hiểu của phàm nhân.

Cho đến hôm nay, tôi vẫn chưa hoàn toàn bình tâm khi hồi tưởng đến cái giá khủng khiếp đã được trả cho niềm hạnh phúc hiện tại của mình — mạng sống của nhiều con người, kể cả kẻ gây án. Tôi ý thức rất rõ rằng không có điều gì có thể khỏa lấp nỗi mất mát không sao đo đếm được của gia đình nạn nhân. Đau khổ của họ là có thật — âm ỉ, kéo dài — và không thể bị xóa nhòa bằng bất kỳ luận cứ thần học nào. Tôi không biện minh cho tội ác, cũng không tìm cách làm giảm nhẹ hậu quả bi thảm của nó.

“Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai mến yêu Người” (Rm 8,28). Lời này không phủ nhận hay làm vơi nhẹ các bi kịch trần thế, nhưng mở ra một chiều kích thiêng liêng mới mẻ: Thiên Chúa không hủy diệt sự dữ bằng bạo lực, bởi Ngài chủ ý biến chính sự dữ thành chất liệu để kiến tạo ra sự lành. Ngài không thanh trừng kẻ ác bằng quyền năng, bởi Ngài chọn chinh phục lòng người cứng cỏi bằng Thập Giá và Phục Sinh. Đó chính là sự khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa Yêu Thương (x. 1Cr 1,21–25), Đấng “cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ dữ cũng như người lành, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45).

Trải qua bao kinh nghiệm đau thương, cuối cùng tôi mới nhận chân rằng ý nghĩa của sự dữ không nằm nơi bản chất nghiệt ngã tự thân của nó, mà nơi quyền năng yêu thương của Thiên Chúa, Đấng có thể biến đổi nó thành mầm mống của ơn hoán cải và thánh hóa. Đây là một mầu nhiệm nghịch lý: ngay trong bóng đêm tăm tối nhất của tội lỗi và đau khổ, ánh sáng cứu độ vẫn có thể bừng lên — không xóa bỏ các vết thương, nhưng chiếu soi, chữa lành, và khai mở một sự sống mới. 

Đoạn kết — Tiếng “Xin vâng” và chân trời hạnh phúc sung mãn

Giờ này, khi tất cả hồi ức về một trải nghiệm đẫm nước mắt trong quá khứ liên tiếp ùa về như một cuốn phim quay chậm, tôi mới thấm thía câu châm ngôn dân gian: “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”. Bà ngoại tôi cho đến giây phút cuối cuộc đời đã không yên lòng nhắm mắt, vì quá lo lắng cho tương lai của tôi. Trong mắt bà, xác suất lấy được chồng và tìm được việc làm của tôi gần như bằng không. Thử hỏi, trong cuộc sống trần thế này, còn gì quan trọng hơn là nghề nghiệp và gia thất?

Thế nhưng, trái hẳn với những dự đoán thuần túy của con người qua lăng kính thế tục, dưới Bàn Tay Quan Phòng của Cha Trên Trời, Đấng “thừa biết các con cần tất cả những thứ ấy” (Mt 6,32), cuộc đời tôi đã không rơi vào ngõ cụt như người thân từng lo lắng. Ngài đã tiên liệu cho tôi một người chồng diện mạo sáng sủa, trí thức, rộng lượng khoan dung, nhất là có khả năng đón nhận và chịu đựng những nét lập dị nơi tôi, và hoàn toàn chấp nhận tôi như tôi là — cứ như thể Chúa đã nhào nặn anh cho riêng tôi. Ngược lại, vài người bạn vừa xinh đẹp, vừa khéo léo, vừa giỏi giang, lại phải cam chịu cảnh tình duyên lận đận ngang trái. Riêng về đường công danh sự nghiệp, hễ mất việc này thì lại có việc khác. Sau cùng, tôi được nhận vào làm việc cho chính phủ, nơi có môi trường công sở tương đối ổn định và dễ chịu, giúp tôi duy trì công ăn việc làm bền vững dù kỹ năng giao tiếp vẫn còn nhiều giới hạn.

Quan niệm thuần túy thế tục về hạnh phúc vốn tự nó méo mó, lệch khỏi khuôn mẫu của hạnh phúc viên mãn mà “mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới — đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1Cr 2,9). Hạnh phúc trần thế thường dừng lại nơi tiền tài, danh vọng, bằng cấp, chức quyền, duyên phận… Ngược lại, trong ý định yêu thương muôn thuở của Thiên Chúa, tất cả những điều ấy chỉ là phương tiện, giúp con người tiến tới đỉnh cao của hạnh phúc cánh chung — tức Nước Trời và sự sống đời đời. 

Vì thế, toàn cảnh miền ký ức đau buồn lướt nhanh trong trí tôi nay đã vén mở cho tôi thấy đâu là căn nguyên sâu xa của mọi nỗi bất hạnh trong đời. Chẳng phải là nghèo khó, thiếu thốn, bệnh hoạn, thất bại hay duyên tình trắc trở… như người đời thường nghĩ, cho bằng là lòng nhát đảm không dám đặt trọn niềm tín thác vào Thiên Chúa, Đấng “không gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Chính vì lòng yếu tin ấy, tôi đã mù lòa trước những dấu chân yêu thương vô hình in hằn trên từng biến cố tưởng chừng ngẫu nhiên của đời thường. Giờ đây, tôi mới đủ sức thấm thía lời mời gọi quyết liệt của Đức Giêsu: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

Khung trời dĩ vãng buồn thương trải dài trước mắt, đồng thời giúp tôi thấu hiểu trọn vẹn tầm ý nghĩa của hai chữ “khổ đau”.  Đau khổ là nấc thang dẫn tới hạnh phúc. Bất cứ nẻo đường nào dẫn lối về chân trời hạnh phúc sung mãn và vững bền đều phải xuyên qua vùng đất cằn cỗi, gập ghềnh, sỏi đá của khổ đau. Người phàm thường khiếp sợ và né tránh khổ đau, nhưng người ta không thể thẩm định giá trị xác thật của hạnh phúc nếu chưa từng trải nghiệm đau khổ.  Phần Thiên Chúa, Ngài không hứa hẹn cất đi các nỗi khổ lụy của thế nhân, nhưng Ngài đoan chắc sẽ vỗ về và an ủi họ. Quả thế, Ngài đã dành cho một kẻ phải âu sầu suốt nửa đời người vì rối loạn phổ tự kỷ như tôi lời chúc phúc dẫy tràn, trên những ai khóc lóc ưu phiền (Mt 5,4).

Xưa kia, tôi thường âm thầm trách móc Chúa vì những an bài cay nghiệt, tựa như một thứ áp đặt phi nhân, phi lý của Ngài. Bây giờ, tôi lại nghĩ: giả như tôi có dịp sinh ra đời một lần nữa, và lần này Chúa ban cho tôi đặc ân được chọn lựa những gì tôi có thể sở hữu trong đời, tôi sẽ không ngần ngại thưa với Ngài rằng: “Lạy Chúa, con xin chọn tất cả những gì Ngài đã chọn cho con, kể cả rối loạn phổ tự kỷ bẩm sinh ác nghiệt, và kể cả gia cảnh phụ mẫu tan vỡ trái ngang, bởi vì Chúa không chỉ là Đấng có lòng yêu thương vô biên, mà còn là Đấng có quyền năng vô tận để nâng con dậy từ đáy vực sâu tối tăm của diệt vong (Tv 40,2–3), và gánh vác hộ con mọi tai ách nặng nề của cuộc đời (Mt 11,28–30). Ngài đã lau khô những giọt nước mắt sầu đau của con, và gắn trên môi con nụ cười tươi vui của hoan lạc vĩnh cửu (Kh 21,4), hầu từ đây linh hồn con được ngơi nghỉ mãi mãi trong an bình và hạnh phúc nơi Ngài (Tv 16,11).”

Lời “xin vâng” (Lc 1,38) năm xưa của Đức Maria đã trở thành lời “xin vâng” của tôi hôm nay: không phải là một khẩu hiệu đạo đức, mà là một tiếng thưa mở lòng trọn vẹn trước Thánh Ý  Thiên Chúa. Từ đó, chân trời hạnh phúc sung mãn không còn là ảo ảnh xa vời, mà trở thành một thực tại nội tâm, nơi an bình và niềm vui bền vững được gieo trồng và trổ sinh hoa trái từng ngày.

Hậu Ký

Giờ đây, khi hồi tưởng lại quãng đời đã qua, tôi mới nhận ra rằng tuy Thiên Chúa dùng rối loạn phổ tự kỷ như một thử thách đức tin lớn lao, Ngài chưa bao giờ bỏ mặc tôi như tôi từng oán trách. Trên từng chặng đường, dù phần đông kỳ thị và chê ghét tôi, Ngài không để tôi hoàn toàn lẻ loi: bên tôi luôn có một vài người lặng lẽ hiện diện và âm thầm đồng hành. Chỉ tiếc rằng tôi chưa đủ hiểu biết để trân quý đúng mức những ân huệ nhỏ bé nhưng bền bỉ ấy. Tôi gần gũi và thân thiết với họ, nhưng lại say sưa đuổi theo những hình bóng xa vời — thậm chí cả những kẻ xem thường mình — để rồi tự chuốc lấy bao đau khổ và tổn thương không cần thiết.

Nhờ ơn Chúa, cuối cùng tôi đã hiểu rằng: đời người không cần nhiều kẻ yêu mến mình. Chỉ cần một vài người thật sự yêu thương và chấp nhận mình như chính mình là — và mình biết trân trọng họ — thế là hạnh phúc đã đủ đầy. Vì vậy, trong hiện tại, tôi đang học cách trân quý đúng mực những ai thật lòng với mình, và tập buông bỏ khỏi tâm trí những ai không có mình trong tim. Tôi học giữ nguyên tắc “thi ân bất cầu báo”: không để hạnh phúc của mình lệ thuộc vào sự đón nhận hay báo đáp của con người. Chỉ cần biết rằng tôi luôn được Thiên Chúa yêu thương che chở và sống trong tâm tình tri ân sâu xa — bấy nhiêu là đủ.

Hôm nay, tôi cũng không còn trách cứ những ai từng làm tổn thương tôi. Tôi tin rằng, ngoại trừ một số rất ít mang ác ý thật sự, phần đông chỉ hành xử dựa trên cảm tính mơ hồ. Do thiếu kiến thức về phổ tự kỷ, họ không hiểu đúng những giới hạn trong tương tác xã hội của tôi, và vì thế đã áp đặt lên tôi những định kiến lệch lạc. Từ đó, họ tự cho mình có quyền phê phán, sỉ nhục, thậm chí loại trừ tôi — không hẳn vì bản chất họ độc ác, mà vì họ không ý thức được mình đang làm gì.

Nhờ ơn chữa lành, các tương quan của tôi dần trở nên an hòa và quân bình hơn: trong gia đình, họ hàng xa gần và giữa bạn bè, tôi hầu như không còn vướng mắc. Với người xa lạ, tôi vẫn đôi lúc gặp trở ngại hay va chạm trong giao tiếp, nhưng điều ấy không còn làm tôi xáo động hay phiền não như trước. Sau cùng, tôi đã học được cách sống an bình thật sự, khi đặt mọi tương quan — dù tốt đẹp hay đang rạn vỡ — trong bàn tay chữa lành nhiệm mầu của Thiên Chúa, Đấng hằng “làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai mến yêu Người” (Rm 8,28).

Tôi chỉ biết đến người gây án qua các nguồn tin công khai. Dẫu vậy, tôi không quan tâm thế giới này nhìn nhận hay đánh giá thế nào về anh, bởi Thiên Chúa không phán xét con người theo thước đo phàm trần. Nhiều người, trong đó có tôi, tin rằng anh đã thành tâm thống hối, và bấy nhiêu thôi đã là đủ trước Nhan Thánh Thiên Chúa. Đối với Thiên Chúa, không có sự hoán cải nào là muộn màng. Một khi ăn năn, Ngài sẵn sàng tha thứ và có những phương cách nhiệm mầu để biến đổi cả những hậu quả thối tha của sự dữ thành sự lành. Tình yêu thương lân tuất của Ngài trổi vượt trên lòng người tà vạy, và lòng bao dung hải hà của Ngài có thể phủ lấp mọi tội lỗi xấu xa. Vì vậy, trong Ngài, tâm hồn nhân thế được bao bọc trong đại dương mênh mông của an bình và phúc lạc vĩnh hằng, nơi những nỗi hối tiếc giày vò dần tan biến.

Đối với nạn nhân và gia đình, tôi ý thức rằng sự hoán cải của kẻ gây án, dù chân thành đến đâu, cũng không thể xóa mờ hay bù đắp được những hậu quả đau thương. Tôi không mong bất kỳ mất mát nào bị lãng quên vội vàng. Trái lại, tôi xin bày tỏ lòng cảm thương sâu sắc với nạn nhân và gia đình họ, đồng thời nguyện cầu ơn siêu độ cho người đã khuất và ơn an ủi cho những người còn ở lại.

Tháng 7 năm 2013 — Năm đức tin 2012–2013

Hiệu đính: tháng 1 năm 2026