Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù…

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù…



Viết về Mẹ nhân ngày Lễ Mẹ


Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót 2015-2016

Kính tặng Cha Anphonsô Phạm Gia Thụy, CSsR, với tất cả lòng tri ân







Lễ Mẹ có lẽ là dịp để người ta bồi hồi nhắc nhớ những ký ức ngọt ngào về Mẹ và tha thiết dâng lên Mẹ những tâm tình tri ân chân thành nhất. Riêng tôi, chữ “Mẹ” thân quen ấy lại gắn liền với một ký ức đau thương và in hằn lên thời niên thiếu buồn tủi của tôi một vết thương lòng nhức nhối khôn nguôi…

Tôi không may mắn chào đời giữa gia cảnh đổ vỡ trái ngang. Cha tôi đã rời bỏ mẹ khi tôi vẫn còn trong dạ bà. Mẹ tôi giận cá chém thớt, nên bao nhiêu nỗi niềm oán hận đối với cha, bà đều đem trút hết lên con. Thật ra, tôi không đến nỗi bị bạo hành về thân xác nhưng tâm hồn tôi luôn buốt giá bởi thái độ rẻ rúng hững hờ hay tơi tả dưới những lời lẽ đay nghiến cay nghiệt.

Thế là, suốt quãng đời thơ ấu bất hạnh của mình, tôi luôn trăn trở trong nỗi khát khao thầm lặng duy nhất. Ấy là ánh mắt dịu dàng và bàn tay êm ái của mẹ. Nhưng hỡi ôi, giấc mộng rất đỗi bình dị và chính đáng ấy chưa bao giờ có cơ hội hóa thành hiện thực… Tôi được nghe nói rất nhiều về Mẹ, về cái hương vị thơm ngát dịu ngọt của Tình Mẹ bát ngát bao la mà tôi chưa từng có diễm phúc nếm trải qua. Biết bao lần, tôi lặng lẽ thả hồn theo âm điệu du dương da diết của bài ca “Lòng Mẹ”, thẫn thờ ngắm nhìn những đứa trẻ rạng rỡ quanh mình, mà ngậm ngùi nuốt nước mắt vào lòng, khắc khoải với cảm giác thèm thuồng được một lần rúc mình vào vòng tay vỗ về ấm áp của mẹ, say sưa đắm chìm vào giấc ngủ bình yên nhất của cuộc đời…

Về phần mẹ tôi, trở nên đơn thân ở tuổi đời còn quá trẻ, đương nhiên bà luôn ao ước tìm được một nhịp cầu tri âm hầu giải tỏa nỗi hiu quạnh, trống vắng của cuộc đời cô phụ. Khổ nỗi, mẹ tôi sống giữa thời chinh chiến loạn lạc. Thanh niên trai trẻ thời ấy, không phơi thây nơi chiến trường, hay mạng vong bởi tai nạn, số ít còn lại, nếu đem chia đều ra, có lẽ cũng đủ cho mỗi ông cặp kè với ít nhất vài ba bà. Mẹ tôi, với nhan sắc tầm thường, lại một nách con thơ, làm sao có đủ cơ may đua tranh với các địch thủ trẻ trung, xinh đẹp khác nơi chốn tình trường?

Cứ như thế, các đấng mày râu có bước vào đời mẹ tôi, đều chỉ vì mưu cầu cá nhân. Được việc rồi, thì phũ phàng phủi tay, giũ áo ra đi… Vì thế, mẹ tôi càng thêm cay đắng với tôi, bởi bà cho rằng sự hiện diện thừa thãi của tôi chính là cái gai nhọn chướng thối gây trở ngại cho các mối duyên lành đến với bà…

Cuối cùng, khi tôi vừa đặt chân vào ngưỡng cửa Trung Học, mẹ tôi cũng thành tựu tìm được một nửa của đời mình, theo nghĩa là người ấy chấp nhận kết hôn với mẹ chứ không quất ngựa truy phong như bao gã họ Sở khác. Tuy nhiên, ngoài điểm khác biệt ấy ra, so với mấy gã nhân tình trước kia của mẹ, lão ta cũng thuộc hạng cá mè một lứa, hay nói huỵch toẹt ra, chẳng qua chỉ là kẻ lừa tình, kẻ tống tiền, có thế thôi.

Ấn tượng đầu tiên của tôi đối với vị hôn phu của mẹ là dung mạo của lão không được sáng sủa cho lắm. Điều này có thể chỉ xuất phát từ nhận xét chủ quan của bản thân tôi, bởi lẽ “ghét ai, ghét cả đường đi lối về”. Thế nhưng có một điểm mà chắc chắn tôi chẳng hề nói oan cho lão tý nào. Ấy là, lão không chỉ thua tuổi tác, kém học thức hơn mẹ tôi mà còn vô công rỗi nghề, ngày qua tháng lại, chỉ biết mỗi việc là lang thang từ đầu làng đến cuối xóm, nhậu nhẹt say xỉn, rồi đứng ngồi xiêu vẹo, lè nhè phát ngôn bừa bãi, không còn chút tư cách, thể diện nào nữa.

Một kẻ bê tha bệ rạc như thế, mà đòi làm… cha tôi, dĩ nhiên là tôi không… phục! Vì thế, tôi không ngần ngại vồ vập cơ may thuận tiện nào hòng phá bĩnh một cuộc hôn nhân mà tôi cho là “tréo cẳng ngỗng”. Và tôi đã thầm nở nụ cười đắc ý khi thấy mình không đơn độc trong cuộc chiến cam go này bởi tất cả mọi người xung quanh, từ họ hàng, láng giềng, cho đến bạn bè, ai ai cũng đồng lòng công khai hay ngấm ngầm đứng về phía tôi. Tuy nhiên, rốt cuộc, tôi vẫn thua cuộc thảm hại, lý do đơn giản là vì mẹ tôi mới nắm quyền quyết định sau cùng. Sau bao nỗ lực quấy rối bất thành, tôi đành ấm ức nhìn mẹ và cha dượng hân hoan tay trong tay, tiến vào thánh đường làm lễ hôn phối và buộc phải cay đắng chấp nhận đội chung nhà với một kẻ mà tôi đã từng thề thốt nặng lời là sẽ không bao giờ đội chung Trời.

Nói cho công bằng, đem so với cái đám trai tráng bạc bẽo đầy rẫy xung quanh tôi, cha dượng tôi không đến nỗi bị xếp vào hàng tệ bạc bậc nhất. Ít ra, xét về bề ngoài, lão lúc nào cũng tỏ ra ngọt ngào, yêu chiều cả hai mẹ con tôi và ngay trong những cơn say xỉn quắc cần câu, lão chỉ bất quá nói năng lảm nhảm, chứ chưa bao giờ bạo hành gia đình. Tuy nhiên, tôi vẫn không tài nào ưa được những luận điệu mật ngọt mà tôi kiên quyết gán cho cái nhãn hiệu giả dối. Khó chịu hơn nữa là những trích dẫn phô trương từ Kinh Thánh mà lão thường xuyên trịch thượng rót vào tai tôi hòng giáo huấn tôi những thứ đạo lý vô nghĩa nhất trên đời.

Gai mắt nhất là sự kiện cha dượng tôi không chỉ ăn không ngồi rồi, lại còn vung vãi tiền bạc cho những cuộc chơi bời thỏa chí với bạn bè. Phải chi của cải do chính bàn tay lão gầy dựng nên! Đằng này, mẹ tôi phải tằn tiện, ky cóp trong bao nhiêu năm trời mới tích lũy được một chút vốn liếng, bây giờ cứ không cánh mà lần hồi bay đi. Gia sản càng hao hụt, mẹ tôi càng xiết chặt các chi tiêu cần thiết dành cho tôi. Cuối cùng, tôi buộc phải vừa học vừa đan móc, may vá để kiếm thêm thu nhập cho các khóa luyện thi ngoài giờ.

Sự dị ứng của tôi đối với cha dượng đã vọt lên đến đỉnh điểm vào lúc lão bắt đầu giở thói xàm xỡ đồi bại đối với tôi. Cơn hỏa khí đang ngùn ngụt trong tôi càng thêm bùng phát dữ dội khi mẹ tôi một mực bênh vực lão cha dượng vô liêm sỉ, đoạn thản nhiên giáng cho tôi vài bạt tai xiểng liểng.

Kể từ đó, tôi bắt đầu nuôi dưỡng lòng thù hận. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là thù hận, một thứ cảm giác thiêu đốt nóng bỏng rất khó chịu, không những không nguôi ngoai, mà còn trở nên ngút ngàn theo thời gian. Ban đầu, tôi chỉ ghét cay ghét đắng lão cha dượng trơ trẽn lố bịch, nhưng dần dà, nỗi căm hận dai dẳng ấy đã lây lan qua cả người mẹ luôn lạnh lẽo vô cảm, đặc biệt là mỗi khi mẹ tôi không ngần ngại trừng phạt thái độ ngỗ nghịch của tôi đối với cha dượng bằng cách cắt bỏ thêm những khoản chi dùng vốn đã trở nên rất hạn hẹp đối với tôi.

Chẳng bao lâu, hoa quả của mối nghiệt duyên ấy đã chào đời. Một đứa trẻ dị tật bẩm sinh! Đáng lẽ bao nhiêu nỗi bất hạnh trong đời phải sớm tạo nên nơi tôi mối đồng cảm sâu xa với đứa em tàn phế, lại trở nên thứ tù ngục oan khiên nhốt kín tôi trong cô quạnh và các mưu toan rửa hận cay độc. Vì vậy, thay vì bày tỏ tình thương yêu và lòng thông cảm, tôi đã nhẫn tâm phá lên cười đắc ý trước sự ra đời của một sinh linh thiếu may mắn và độc ác trả đũa một kẻ hoàn toàn vô can bằng thái độ dửng dưng, bàng quang, xa cách.

Với sự xuất hiện của một thành viên mới, tôi lập tức bị hạ cấp thành thứ công dân hạng bét, luôn phải chịu đựng mọi sự phân biệt đối xử vô lý, bất công. Tài chính gia đình càng lúc càng trở nên khánh kiệt. Mẹ tôi phải liên tiếp bán nhà lớn hơn, mua nhà nhỏ hơn. Các nhu cầu tối cần thiết hằng ngày của tôi lập tức bị xếp xó vào hàng ưu tiên sau cùng trong các khoản chi thu gia đình. Đã thế, tôi đột nhiên hóa thành thứ đày tớ không công, phải gồng gánh hết mọi thứ công việc chồng chất trong nhà. Bỗng dưng phải è cổ nai lưng ra hầu hạ một kẻ không chút máu mủ ruột rà trong lúc lão xa hoa phè phỡn, khối ung nhọt ân oán canh cánh trong lòng càng thêm lở loét và loang lổ.

Nói cho chính xác, tôi hận cha dượng tôi, tôi hận mẹ tôi và tôi hận cả đứa em tàn tật vô tội của tôi. Cuộc sống vốn dĩ đã khốn khổ của tôi chẳng mấy chốc hóa thành chốn Hỏa Ngục Trần Gian khi tôi bị chính cảm giác hỷ nộ ái ố thất thường của bản thân gậm nhấm và giày vò không dứt. Ý tưởng phục thù tăm tối đã bóp nghẹt trái tim tươi trẻ của tôi, làm biến thái tâm hồn trong sáng của tôi đến mức dám nung nấu cả toan tính sát nhân. Tôi tức tối nghiền ngẫm kế hoạch hạ độc lão cha dượng đáng hận kia, cho lão đoàn tụ quách với… ông bà, có như thế, lão mới vĩnh viễn biến mất khỏi cuộc đời tôi. Dĩ nhiên, tôi không bao giờ có đủ dũng khí thực hiện âm mưu hiểm ác ấy. Trong cơn bế tắc cùng cực, tôi đã liều lĩnh leo lên lầu cao, tần ngần toan buông mình vào cõi hư vô đời đời nhưng tôi đã kịp thời kìm hãm lại, không phải vì e sợ cái chết cho bằng nỗi ngại ngùng phải giáp mặt với cuộc sống bí ẩn ở đời sau.

Tốt nghiệp xong Trung Học, tôi không tiếp tục học lên cao mà theo đuổi nghề may. Bấy giờ, kinh tế gia đình đã kiệt quệ lắm rồi, nhất là sau khi một đứa em nữa ra đời, nên tôi phải ngưng học dở dang và đi làm thuê cho các cửa hàng y phục. Rời khỏi ghế nhà trường, không còn bận rộn với bài vở, tôi thật không biết phải làm gì với khoảng thời gian rảnh rỗi đã trở nên lê thê thừa thãi. Lang thang bụi đời thì không có can đảm. Ăn chơi đàn đúm cũng chẳng có điều kiện. Ru rú trong nhà để vừa bị sai vặt, vừa phải chạm mặt với lão cha dượng gai mắt kia thì chả dại! Xem ra chỉ còn một nơi nương náu an toàn miễn phí duy nhất dành cho tôi, ấy là… nhà thờ!

Thú thật là ban đầu, tôi cần mẫn lai vãng các thánh đường, chẳng qua là mong tìm một liều thuốc ngủ, hòng lãng quên một thực tại đen tối đoạn trường. Nhưng rồi ngày tháng qua đi, tôi càng lúc càng thấy thân thiện gần gũi với Chúa hơn. Ngài mỉm cười với tôi và tôi ngây ngô đáp trả. Tôi bắt đầu ngỡ ngàng lắng nghe từng Lời của Ngài. Và đây, văng vẳng đến tai tôi, lời phán truyền ngày nào của Chúa Giêsu với uy quyền tối thượng và đòi hỏi tuyệt đối:

"Các con nghe lời dạy rằng: "Mắt đền mắt, răng đền răng. Nhưng Ta bảo các con: "Đừng chống cự kẻ ác. Nếu ai vả má bên phải, hãy đưa luôn má bên kia cho họ. Nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngắn, hãy để họ lấy luôn áo dài. Nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với họ hai dặm. Ai xin hãy cho; ai muốn mượn gì, đừng từ chối…
(Mt 5:38-42)

Nghe đến đây, tôi lập tức có đủ thông minh để đoán biết Chúa đang muốn gì ở nơi tôi. Ngài đang khẩn khoản mời gọi tôi hãy mở lòng bao dung mà tha thứ cho lão cha dượng Trời đánh, Thánh… đỡ kia! Lão ta quả là cái thứ Trời đánh, Thánh… đỡ thật mà, chứ Trời đã đánh cho nhừ đòn rồi mà Thánh còn đâm cho thêm vài nhát nữa thì kể như bế mạc cuộc đời, làm gì còn có thể nhởn nhơ tồn tại cho đến ngày hôm nay!

Dĩ nhiên là đời nào tôi chịu chấp thuận một yêu sách vô lý và bất công như thế. Kết quả là một cuộc tâm chiến dữ dội đã bùng nổ. Tôi giãy nãy, vùng vẫy, hòng thoát khỏi vòng tay cứng cỏi của Chúa nhưng Ngài nhất định không chịu buông tha. Ngài kiên trì rỉ rả vào tai tôi bài giảng chướng tai, gai óc ấy mỗi ngày nhưng tôi vẫn bướng bỉnh lắc đầu, bất phục. Chúa muốn gì, đó là chuyện của Ngài. Phần tôi, thà bị ném vào lửa đời đời” (Mt 18:8), chứ dứt khoát muôn đời không dung thứ lão cha dượng đáng nguyền rủa đến vạn lần ấy!

Cứ thế, tôi ngoan cố bám víu vào lối lý sự ngang ngạnh của mình, nhất là khi nhớ lại lần cuối cùng, lão cha dượng dám trơ trẽn khỏa thân trước mặt tôi. Lúc ấy, tôi điên tiết vơ bừa cây kéo gần đấy, chĩa chiếc mũi nhọn hoắc về phía lão, gầm gừ đe dọa:

- Ông mà tiến thêm một bước nữa thì tôi sẽ ném cây kéo này vào mặt ông và hét ầm lên cho cả làng cả xóm nghe!

Trước phản ứng dữ dội của tôi, lão ta đành lùi bước và không còn dám hó hé giở thêm trò đê tiện bỉ ổi nào nữa. Mặc dầu vậy, tôi vẫn căm tức khắc ghi lời thề sẽ ghim sâu mối hận này vào tận đáy lòng, mãi mãi không quên!

Thật lòng mà nói, tôi không thể hiểu được vì sao một Thiên Chúa được mệnh danh là Cha Từ Bi Nhân Hậu lại nhẫn tâm ném tôi vào giữa chốn bi kịch đoạn trường của một gia đình ly tán rồi lạnh lùng ngoảnh bước, phó mặc tôi bị vùi vập, nghiền tán thảm thương dưới gánh nặng tàn khốc của bấy nhiêu gian truân, nhọc nhằn ở trên đời. Để rồi một hôm, Ngài đột ngột xuất hiện trước mắt tôi, một mực nài ép tôi phải bằng lòng giũ bỏ mọi thứ hờn oán thâm thù:

"Các con có nghe lời dạy: "Hãy thương người láng giềng và ghét kẻ thù địch. Nhưng Ta bảo các con: "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con,…
(Mt 5:43-44)

Phần tôi, đương nhiên tôi không tài nào thuận ý buông xuôi một cách dễ dàng bởi những thương tổn tâm linh vẫn tiếp tục thối rữa đến mức hoại tử dưới gót chân giẫm đạp vô cảm vô tình của mẹ và cha dượng. Tôi vùng vằng dỗi hờn, làu bàu than phiền trách móc Chúa, đoạn nhấp nhổm tháo chạy hầu thoát khỏi tầm ảnh hưởng đáng sợ của Ngài. Thế nhưng…

Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Chỉ có Thầy mới có Lời Hằng Sống!
(Gn 6:68)

Tôi đã bị đẩy vào ngõ cụt cùng đường rồi, chỉ có Chúa mới cứu vớt được tôi thôi. Không còn sự chọn lựa nào khác, tôi đành ấm ức vâng phục Chúa. Từ đó trở đi, tôi bắt đầu cố gắng tập tành hy sinh, nhẫn nại, vị tha. Gọi là “tập tành”, nghe cho oách một tý, chứ thật ra, tôi đang bị Chúa dí súng vào đầu đấy, không vâng theo ý Ngài, không xong đâu. Bởi thế, tôi vừa cặm cụi với công việc thường nhật, vừa hậm hực ném cho lão cha dượng nhàn rỗi khó ưa kia ánh mắt hình… viên đạn.

Với thời gian và ân huệ của Thiên Chúa, niềm thù hận một thời hừng hực trong tôi cũng dần dà nguội mát. Tôi bớt lời châm chích xỏ xiên với cha dượng, ân cần với mẹ và quan tâm các em hơn. Vài năm sau, tôi xuất ngoại và định cư ở nước ngoài. Khoảng cách địa lý xa xôi đã giúp tôi hoàn toàn thoát ly khỏi những va chạm cọ xát khó chịu hằng ngày, nhờ vậy, nỗi căm hờn đắng chát  thưở xưa cũng từ từ lắng dịu xuống. Tuy vậy, tôi vẫn chưa thật sự có thể thốt ra lời tha thứ tận thâm sâu của đáy lòng. Trong những cánh thư gửi về quê nhà, tôi không bao giờ nhắc đến tên cha dượng. Thôi thì cứ xem như “nước sông không chạm nước giếng” vậy. Mẹ tôi có lẽ đã đoán biết tâm ý của tôi nên cũng lờ đi, không đề cập đến. Chẳng bao lâu sau, tôi lập gia đình, có một mái ấm hạnh phúc với hai thiên thần bé nhỏ.

Có sinh con, mới biết lòng cha mẹ”. Câu châm ngôn bất hủ của tổ tiên để lại quả không sai tý nào. Kể từ khi tôi cuốn mình vào vòng xoáy quay cuồng của vai trò và trách nhiệm làm mẹ, tôi mới bắt đầu cảm nghiệm mối đồng cảm sâu xa với người mẹ suốt đời duyên phận bẽ bàng. Tôi may mắn kề cận người bạn đời luôn sẵn sàng giang tay nâng đỡ mình, vậy mà lắm lúc tôi còn cảm thấy kiệt quệ khi phải đối đầu với đủ thứ căng thẳng và áp lực nặng nề của nhịp sống hiện đại. Huống chi xưa kia, mẹ tôi phải một thân một mình nuôi nấng con thơ trong đìu hiu cô quạnh, phải đơn thân gánh vác bao nhiêu vất vả nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh ngặt nghèo. Giá như mẹ nhẫn tâm hơn một tý, phũ phàng hơn một tý, tống quách tôi vào cô nhi viện cho rảnh mắt, thì làm gì còn có tôi của ngày hôm nay? Chỉ đến giờ phút này, nỗi hờn trách âm thầm từ bao năm nay với người mẹ khô khan cằn cỗi mới phai nhạt dần vì tôi đã hiểu ra rằng, mẹ tôi thật sự đáng thương hơn là đáng trách.

Thời gian gần đây, bỗng nhiên một loạt các biến cố xui xẻo, bất như ý đã bất ngờ liên tiếp xảy ra khiến tôi tối tăm cả mặt mũi. Trong khuôn khổ giới hạn của bài chia sẻ này, tôi chỉ xin nêu lên sự kiện tiêu biểu nhất. Ấy là tôi bỗng phát bệnh trầm kha, vô phương chữa trị. Giữa lúc tưởng chừng hoàn toàn vô vọng, tôi chợt nghĩ đến… phép lạ bởi vì giờ đây, chỉ có Chúa mới có đủ quyền năng để cứu chữa tôi. Thú thật là từ nào giờ, tôi không mấy quan tâm đến phép lạ. Không phải tôi không tin, nhưng tôi đã từng thấy rất nhiều người xung quanh mình, tối ngày cầu xin, xin đủ thứ đủ điều, từ tình duyên gia đạo cho đến công danh sự nghiệp, không được như ý thì bỏ Chúa, bỏ đạo. Vì vậy nên tôi luôn tự nhủ lòng, đừng xin xỏ gì hết cho… chắc ăn. Ngài cho gì, lấy nấy, Ngài lấy lại, cũng đành chịu thôi. Tuy thế, lần này tôi không thể ngoan ngoãn trông chờ vào sự an bài trớ trêu của định mệnh nữa. Các con thơ dại của tôi đang rất cần vòng tay ấp ủ chở che của mẹ. Tôi không thể bỏ rơi các con bơ vơ ở trên đời…

Mặt khác, tôi cũng ý thức được, Thiên Chúa là Đấng Tạo Thành, Ngài có tự do của riêng Ngài. Là một thụ tạo bé nhỏ, tôi chỉ có thể cầu xin, chứ không thể “khủng bố” Ngài. Vì vậy, tôi khẩn khoản thêm với Chúa rằng, nếu vì một lý do gì đó, Ngài không muốn chữa lành cho tôi, xin Ngài hãy chăm sóc các con thay cho tôi… Cuối cùng, Thiên Chúa đã vui lòng chấp thuận và căn bệnh đang tiến triển trầm trọng của tôi đã dần dần thối lui.

Một khi ngã xuống giường bệnh, người ta sẽ tự nhiên có thừa thời gian để suy gẫm về những điều mà thông thường người ta không rảnh rỗi để ngẫm nghĩ. Và một khi phải đối mặt với tử thần, người ta sẽ bỗng dưng có đủ khả năng nhận thức những điều mà thông thường người ta không tài nào lãnh hội được. Không ngoại lệ, tôi bắt đầu ý thức rằng, đã đến lúc tôi cần tập tành giũ bỏ hết mọi bám víu thế tục và điều tôi phải buông xuống trước tiên chính là các mối ân oán tình thù. Tôi bất chợt nhớ đến cha dượng ở quê nhà. Tuy nhiên, mùi vị đắng cay chua chát của năm xưa đã không còn dâng trào gay gắt nơi đầu lưỡi nữa. Trước kia, tôi căm ghét cha dượng bởi cho rằng ông đã tước đoạt quá nhiều thứ từ tay tôi, từ tình thương của mẹ cho đến tài sản trong nhà, chưa kể ông còn mưu toan cưỡng bức bản thân tôi. Nhưng rồi thời gian dần trôi, Thiên Chúa đầy lòng thương xót đã bù đắp đầy đủ bấy nhiêu mất mát, thiệt thòi của tôi, thậm chí còn dư đầy chan chứa, vượt quá mọi mong đợi giới hạn của tôi…

Quả thế, tôi tuy thiếu vắng tình mẹ nhưng đã được đền bù rộng rãi bằng một mái ấm hạnh phúc của riêng mình và lòng từ ái hải hà của Người Cha Thiên Quốc. Tôi tuy thiếu thốn vật chất nhưng đã được bồi thường hào phóng bằng cuộc sống tài chính ổn định trong hiện tại và một kho báu vô tận không bao giờ mục nát ở trời cao. Giờ phút này, tôi không tìm được lý do chính đáng nào để tiếp tục nung nấu oán hờn giận ghét nữa. Những vết thương lòng thối rữa và buốt nhói từ bao năm qua đã được Thiên Chúa băng bó, chữa lành và tuyệt nhiên không để lại vết sẹo gồ ghề nào.

Dầu vậy, con tạo nghiệt ngã xoay vần thường thích trêu ghẹo những tấm chân tình. Tôi đã phải vượt qua biết bao nhiêu trở ngại tâm linh gập ghềnh mới có thể thật lòng tha thứ và nhìn nhận cha dượng như ông xứng đáng được, với tư cách đồng là con cái của Cha Trên Trời. Vậy mà mẹ tôi bỗng nhiên thông báo một tin hoàn toàn bất ngờ, nằm ngoài tất cả dự đoán của tôi.  Ấy là, sau bao nhiêu năm thống khổ trong cuộc hôn nhân tù ngục, mẹ tôi quyết tâm tự giải thoát cho mình và ngầm nuôi ý định xây dựng lại hạnh phúc với một người mà xét về bề ngoài, trổi vượt hơn hẳn cha dượng tôi về mọi mặt. Về phía họ hàng thì miễn bàn rồi, không những bên tôi, mà cả dòng họ bên ông, ai nấy cũng đều đồng lòng ủng hộ mẹ tôi thoát ly khỏi gã chồng bê bối để vun đắp một mái ấm mới. Riêng tôi ngỡ ngàng xuôi theo ý mẹ mà tâm hồn không ngớt nổi sóng ba đào.

Mâu thuẫn chính là ở chỗ đấy. Tôi từng điên cuồng tìm đủ mưu kế hòng chia rẽ mẹ và cha dượng. Thế mà hôm nay, khi tâm nguyện xâu xé một thời đã được đạt thành, tôi chẳng thấy thích thú chút nào. Dẫu thế nào, mẹ và cha dượng cũng đã trang trọng trao nhau lời thề hứa trăm năm trước Bàn Thánh Chúa, và…

Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân chia.
(Mt 19:6)

Đó là một chân lý bất di bất dịch, không ai có thẩm quyền thay đổi được. Thiên Chúa là Đấng thủy chung như nhất, Ngài không hề bỏ rơi loài người cho dẫu loài người phản trắc đã bao phen ngoảnh mặt quay lưng lại với Ngài. Do đó, Ngài cũng đòi hỏi các con cái của Ngài một hôn nhân trường tồn, không phân rẽ. Như thế, việc ly hôn này chắc chắn không phải là điều làm đẹp lòng Chúa!

Tôi bất giác suy tưởng về ơn chữa lành mà Chúa vừa rộng lòng ban cho. Nhờ vậy, tôi bỗng chốc thấu hiểu, đâu là lầm lạc lớn nhất của đời mình. Tôi từng quan niệm rất ấu trĩ rằng, miễn là mẹ tôi chịu rời xa đức lang quân phá gia chi tử ấy thì bà sẽ được yên ổn an lành. Vì thế, tôi đã không từ nan bất cứ kế sách hay ho nào hòng vĩnh viễn tách rời và loại bỏ cha dượng ra khỏi cuộc đời của mẹ. Vậy mà, hoàn toàn trái ngược với những lập luận trần tục hẹp hòi của tôi, Thiên Chúa lại là:

… Đấng cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.
(Mt 5:45)

Một Đấng Chí Thánh Toàn Năng dĩ nhiên không bao giờ dung túng cho sự dữ hay phó mặc cho sự ác hoành hành, Dầu vậy, Ngài luôn có lòng trắc ẩn sâu thẳm và khoan dung cao vời đối với những kẻ lầm đường lạc lối. Thử nghĩ mà xem, giả như tồn tại một xí nghiệp sản xuất mà đa số thành phẩm đều không đạt yêu cầu chất lượng, cần phải loại bỏ, có phải xí nghiệp ấy sẽ đối đầu với nguy cơ phá sản trong một tương lai rất gần? Tương tự, nếu hễ ai lỡ bước sa chân là Thiên Chúa thẳng tay tống cổ xuống Hỏa Ngục thì kể như Ngài đại bại rồi vì toàn bộ công trình sáng tạo ban đầu của Ngài chắc chắn sẽ trôi sông đổ bể, bởi lẽ, cứ theo phép công thẳng mà xét, thì:

Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không;…
… mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa
(Rm 3:10; 3:23)

Do đó, Thiên Chúa đã quyết ý không biểu dương quyền năng uy dũng của Ngài bằng cách hủy diệt kẻ dữ, mà bằng lòng nhẫn nại vô biên hầu dìu dắt họ trở về với nẻo chính đường ngay. Ngài cũng nhất tâm không biểu lộ sự cực thánh vinh hiển của Ngài bằng cách loại bỏ kẻ ác, mà bằng lòng kiên trì vô bờ hầu hoán đổi họ trở nên lành thánh trước Nhan Ngài. Đơn giản là vì:

Cha của các con, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất…
… trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.
(Mt 18:14; Lc 15:7)

Đây mới chính là sự khôn ngoan tuyệt đỉnh của một Thiên Chúa Chí Thánh Toàn Năng mà bộ não phàm tục thiển cận của tôi đã không sao mường tượng ra được. Nghĩa là, chỉ cần cha dượng tôi chịu thay đổi, trở nên ngay lành, cần cù, chu đáo, lúc bấy giờ, không chỉ riêng mẹ tôi, mà cả hai ông bà sẽ cùng nhau vui hưởng hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Ngoài ra, cho dẫu tôi thành công chia rẽ hai người và mẹ tôi may mắn tìm được người bạn đời khác tử tế hơn, giữa lúc cha dượng tôi vẫn tiếp tục trầm luân trong u mê tăm tối, thì đó không phải là giải pháp khắc phục triệt để, phù hợp với kế hoạch yêu thương nguyên thủy của Cha Trên Trời.

Cải hóa một con người, đó là điều rất khó thực hiện, nếu không muốn nói là bất khả thi đối với sức lực hạn hẹp của người phàm. Thật vậy, dưới lăng kính nhân loại, cha dượng tôi kể như thuộc hạng vất đi, hết thuốc chữa rồi, nhưng ngược hẳn lại,

… đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được."
(Mt 19:26)

Quả thế, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ này từ không thành có, đã khiến kẻ chết sống lại,  chữa lành đủ loại bệnh tật hiểm nghèo và biến đổi biết bao kẻ tà tâm ác nghiệt thành bậc hiển thánh. Tuyệt nhiên không có gì là không thể thực thi được đối với Ngài. Ơn chữa lành dành cho căn bệnh nan y của tôi cùng các dấu lạ kỳ diệu khác mà Thiên Chúa đã lần lượt rộng lòng thi thố trên cuộc đời khốn cùng, không lối thoát của tôi đã chứng tỏ minh bạch điều đó.

Hơn nữa, Thiên Chúa còn soi lòng lòng mở trí cho tôi giác ngộ thêm rằng:

Đừng đoán xét thì các con khỏi bị đoán xét. Đừng lên án thì các con khỏi bị lên án…
... Sao con thấy cái dằm trong mắt anh em con mà không nhìn biết cây xà trong mắt mình?...
(Lc 6:37; 6:41)

Từ trước đến nay, tôi chỉ viện vào các hành vi bề ngoài của cha dượng rồi vội vàng lên án và gay gắt phủ nhận sự hiện hữu của ông ở trên đời. Tuy nhiên, tôi làm sao có khả năng dò thấu những tâm tư trăn trở tận sâu đáy lòng của ông? Biết đâu ông vốn có tâm hồn ngay lành hướng thiện, nhưng đang phải khổ sở vật vã với những yếu đuối hư hèn của xác thịt? Riêng bản thân tôi, chỉ vì nuôi chí phục thù mà ấp ủ bao toan tính độc địa. Tôi chỉ chưa có cơ hội thực hiện những ý đồ xấu xa ấy thôi.

Đến đây, tôi bất giác nhận ra, tôi mới chính là đứa con hoang đàng, đã đem gia sản yêu thương của Cha Trên Trời mà tiêu tán, phung phá nơi chốn bùn lầy nhơ nhớp của thù ghét oán hờn (Lc 15:11-13). Tôi đã lãng phí hơi thở sự sống quý giá của Thiên Chúa Ba Ngôi (St 2:7), vào những cảm giác bực tức, giận ghét vô bổ, thậm chí những mưu toan trả đũa vô ích, không đi đến đâu. Để rồi rốt cuộc, tôi chẳng thu hoạch được gì ngoài một cục diện đổ vỡ hoang tàn trong hiện tại. Xưa kia, tôi từng lôi đình thịnh nộ, không sao chấp nhận sự kiện một kẻ hoàn toàn vô can như tôi bỗng dưng phải gò lưng gánh chịu bao nỗi oan khiên ngang trái. Nhưng hôm nay, Thiên Chúa đã vén mở cặp mắt tâm linh của tôi để nhìn thấu, kẻ tội phạm trước tiên, không phải là ai khác ngoài… chính bản thân tôi! Quả là một nghich lý bất ngờ. Từ nào giờ, tôi những tưởng mình là nạn nhân vô tội, ngờ đâu bỗng chốc lại biến thành phạm nhân tội đồ trước ngai tòa của Đấng Tối Cao!

Lúc này đây, tôi vô cùng ray rứt hối tiếc về hậu quả tồi tệ của sự cứng lòng mù tối năm xưa. Tôi đã ngông nghênh ngoảnh bước quay lưng với lời mời gọi thiết tha của Thiên Chúa, đã ương ngạnh khước từ cộng tác vào chương trình cứu chuộc tuyệt hảo của Ngài. Giá như ngày ấy, tôi khiêm nhượng vâng phục Chúa, chân thành tha thứ và thành khẩn nguyện cầu cho cha dượng như Ngài hằng đòi hỏi mong chờ, biết đâu hôm nay, ông đã hồi tâm và một lòng một dạ mưu cầu hạnh phúc cho gia đình? Tôi bắt đầu nghiệm ra rằng, đối với nỗi bất hạnh cả đời của mẹ, tôi cũng góp phần trách nhiệm không nhỏ trong đó!

Thánh Monica thưở xưa đã phải vất vả ròng rã suốt 20 năm dài đằng đẵng, kiên tâm cầu nguyện trong nước mắt và thương đau, hầu hướng lòng ông chồng và ông con lạc lối chịu hồi đầu trở lại. Riêng với tôi bây giờ mà nói, tất cả xem ra đã quá muộn màng rồi. Tuy nhiên, đối với Thiên Chúa, không có cuộc trở về nào là muộn màng cả bởi Ngài quả quyết sẽ trả công bội hậu cho tất cả mọi người, kể cả những ai đến nhận việc vào giờ sau hết tại vườn nho của Ngài (Mt 20:1-16)! Tôi tự hứa với lòng mình và với Chúa, tôi sẽ dành quãng đời còn lại của mình để chuộc lại lỗi lầm bằng cách chuyên cần cầu nguyện cho mẹ và cha dượng. Hy vọng một ngày nào đó trong tương lai, Thiên Chúa giàu lòng xót thương sẽ an bài một đáp án mỹ mãn cho cuộc hôn nhân tuy oan trái nhưng đã được long trọng kết hợp trước Nhan Thánh Ngài. Tôi cũng cầu xin Chúa ban cho tôi ơn bền đỗ đến cùng vì tôi biết rõ, nếu thiếu bàn tay trợ giúp của Ngài, một phàm nhân hèn yếu như tôi sẽ rất dễ ngã lòng, buông xuôi…

Đọc những dòng tâm tình của tôi, có lẽ nhiều người sẽ cho rằng tôi không điên thì cũng khùng. Mẹ tôi đã một đời khổ lụy với gã chồng tệ bạc, không ra gì, sao không nhân cơ hội hiếm hoi này mà cổ võ bà vun bồi hạnh phúc thật sự? Đây quả là chọn lựa khôn ngoan theo lập luận thường tình của thế gian. Nhưng trái lại, Thiên Chúa luôn tạo cơ hội hối cải trở về và kiên nhẫn đợi chờ những kẻ lỡ lầm. Ngài đã thể hiện sự khôn ngoan trọn hảo ấy nơi Thập Giá và Phục Sinh, bởi duy nhất chỉ có lòng yêu thương, nhẫn nhịn và tha thứ mới có đủ năng lực chiến thắng sự dữ và cảm hóa các kẻ tội đồ:

… thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin…
… cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người…
 (1C 1:21; 1:25)

Tôi đã bỏ lỡ nửa cuộc đời quý báu Chúa ban hòng rong ruổi theo sự khôn ngoan phù phiếm hão huyền của thế tục. Hôm nay, nhờ vào lòng nhân từ khôn dò của Cha Trên Trời, tôi đã được vực dậy từ cõi chết, không phải để tiếp tục lạc lối vào nẻo đường xa rời Ngài nữa…

Giờ phút này, tôi không mong mỏi gì hơn là được cùng Đức Trinh Nữ Maria thốt lên lời “xin vâng” với mọi lệnh truyền khôn ngoan siêu vời của Thiên Chúa Ba Ngôi và cùng Thánh Phanxico Khó Khăn cất cao tiếng hát bài ca Hòa Bình:

Lạy Chúa từ nhân,
Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa
Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù,
Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục
Ðem an hoà vào nơi tranh chấp,
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm…

 05-2016

Hành trình tìm kiếm hạnh phúc và ơn chữa lành của một người tự kỷ

Hành trình tìm kiếm hạnh phúc và ơn chữa lành


Đây là một hồi ký thiêng liêng về rối loạn phổ tự kỷ, hành trình chữa lành và ý nghĩa của đau khổ. Bài viết mang góc nhìn đức tin Kitô giáo, suy tư về ân sủng, tự do và một tiến trình biến đổi tiệm tiến đòi hỏi sự cộng tác bền bỉ của con người — chứ không phải một phép lạ tức thời.

Ghi chú của tác giả

Trải nghiệm được chia sẻ trong bài viết này mang tính cá nhân và thiêng liêng, không nhằm thay thế hay phủ nhận các can thiệp y khoa đối với rối loạn phổ tự kỷ. Mỗi người trong phổ tự kỷ có một hành trình riêng, cần được tôn trọng và đồng hành phù hợp.

Lời tựa

Tôi đã trải qua nửa đời người trong cô đơn, bất hạnh và nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc. Ban đầu, tôi đổ lỗi cho rối loạn phổ tự kỷ bẩm sinh và hoài phí biết bao công sức truy tìm cách “sửa chữa” bản thân. Sau cùng, tôi khám phá ra rằng không phải sự khác biệt tâm lý, mà chính lòng nhát đảm và đức tin yếu ớt mới là bức tường vô hình ngăn cản tôi chạm tới hạnh phúc chân thật.

Niềm tin tuyệt đối cần phải có ấy, tôi chỉ đạt được sau một vụ án sát nhân… Không phải chi tiết bạo lực đã đánh thức tôi, mà chính là một nghịch lý lạ lùng: một đời người tưởng như “đủ đầy” vẫn có thể kết thúc trong thảm kịch. Nghịch lý ấy làm bật tung cánh cửa nội tâm, mở ra cho tôi một nhận thức hoàn toàn mới về hạnh phúc.

Như thế, hạnh phúc viên mãn của tôi hôm nay lại nảy sinh từ một biến cố bi thảm tột cùng — một mầu nhiệm khiến tôi vẫn còn bàng hoàng, bởi nó gắn liền với nỗi đau vô tận và mất mát khôn cùng của những gia đình liên quan.

1) Tuổi thơ những vết thương đầu đời

Ngay từ hồi bảy, tám tuổi, tôi đã linh cảm nơi mình những dấu hiệu khác lạ trong tương tác xã hội. Tôi chỉ ý thức rõ khi bọn trẻ cùng trang lứa bắt đầu công khai châm chọc, tẩy chay, và gán cho tôi cái biệt danh “con khùng”. Tôi quá bé để hiểu vì sao, nhưng đủ lớn để cảm nhận nỗi phiền não âm ỉ và dai dẳng.

Tôi từng chạy về khóc với mẹ, mong được che chở. Bà an ủi tôi một lát, rồi khi tôi phạm lỗi, chính bà đem nỗi đau ấy ra chì chiết, giễu cợt. Có lẽ chỉ là vô tình, nhưng với tôi, đó là lưỡi dao đầu tiên — không rỉ máu mà xuyên thấu tâm can và theo tôi suốt nửa đời người.

Mãi về sau tôi mới biết mình thuộc một dạng nhẹ trong phổ tự kỷ: trí tuệ bình thường, nhưng kỹ năng giao tiếp hạn chế, kèm theo vài biểu hiện hành vi khác thường. Bi kịch càng nặng nề vì tôi không được lớn lên trong một mái ấm gia đình nguyên vẹn. Mẹ tôi lạnh nhạt và xa lánh tôi vì oán hận cha tôi bỏ rơi bà; địa vị tôi càng bị hạ thấp khi bà kết hôn và những đứa em cùng cha khác mẹ lần lượt ra đời. Tôi không bị ngược đãi nhiều về thể xác, nhưng tinh thần luôn bị nghiền nát bởi thái độ ghẻ lạnh và lời lẽ cay độc.

Những yếu tố ấy cộng lại trở thành chất xúc tác làm tình trạng của tôi trầm trọng hơn. Trong khi bạn bè đồng trang lứa sống êm đềm và vô tư, tuổi thơ của tôi chìm trong u tối và nước mắt. Người ta nói về tia sáng cuối đường hầm; còn tôi chỉ nhìn thấy một bóng đêm lạnh lẽo, dày đặc — không hé lộ dù chỉ một lời hứa mong manh.

Giữa khung cảnh lạnh lẽo ấy, bà ngoại là người hiếm hoi dành cho tôi hơi ấm của yêu thương. Tuy nhiên, khoảng cách thế hệ khiến bà không thể thấu hiểu hết những uẩn khúc trong lòng tôi. Rồi bà cũng sớm giã từ tôi; ở tuổi mười bốn, tôi mất đi chỗ dựa tinh thần cuối cùng, và cảm giác lẻ loi càng trở nên sâu hoắm.

2) Tuổi cập kê — Khát vọng yêu thương

Tuổi cập kê đến, vết thương không tự lành; nó kết tinh thành một khát vọng tưởng như rất đơn sơ: được nhìn nhận, được trân trọng. Tôi hăng say tìm kiếm, tiếp xúc đủ hạng người, đọc đủ loại sách — nhưng vẫn không tìm được câu trả lời. Tôi cố gắng hòa nhập bằng cách tập tành bắt chước người khác, nhưng càng nỗ lực, tôi càng trở nên vụng về và lố bịch trong mắt thiên hạ.

Thiện chí sửa mình chỉ chuốc lấy giễu cợt, chế nhạo, và những cánh cửa lòng đóng sầm. Cuối cùng, tôi thất bại hoàn toàn, và ước vọng yêu thương kết tủa thành thực tại cay đắng. Vết thương lòng trở nên mãn tính và hoại tử.

Tôi bắt đầu oán hận tất cả — kể cả bản thân và Đấng Tạo Hóa. Trong cơn đau đớn cùng tận, tôi đã từng ganh tỵ với những kẻ mất trí, vì họ không suy nghĩ nên dường như không biết khổ đau. Quanh tôi bủa vây bóng đêm của sự chết: tôi nhiều lần thoáng nghĩ đến việc kết thúc đời mình, nhưng vẫn ngần ngại, vì không biết điều gì chờ đợi sau ngưỡng cửa bí ẩn ấy.

3) Gặp gỡ Đức Kitô Một tia sáng ban mai

Giữa những ngày tháng cùng cực ấy, Đấng mà tôi từng oán trách lại âm thầm gửi đến những bàn tay cứu giúp. Ngài an bài cho tôi một người bạn gái tử tế, không xét đoán. Dẫu vậy, cô chỉ nâng đỡ tôi phần nào ở bình diện tinh thần.

Khi mười bảy tuổi, tôi kết thân với một cô bạn Công giáo. Cô có đức tin đơn sơ, sống bằng những lời nói bình dị và cử chỉ mộc mạc nhưng thấm đượm tình yêu thương lân tuất của Cha Trên Trời. Chính nơi cô, tôi chập chững nghe tiếng gọi dịu dàng đầu tiên của Đức Kitô. Dù chưa hiểu Ngài là ai, tôi đã vội bám lấy Ngài như kẻ sắp chết đuối vớ được chiếc phao cứu sinh.

Tôi đăng ký học giáo lý tân tòng. Ban đầu chẳng ai muốn đỡ đầu; có lẽ họ e ngại phải đồng hành với một người “khác thường” như tôi. Tôi cầu xin Đức Mẹ, và bất ngờ có một chị lạ mặt đến ngỏ ý nâng đỡ. Chị cho tôi mượn “Một tâm hồn” của Thánh Nữ Têrêsa. Tôi say mê vị Thánh nhỏ bé ấy ngay từ đầu, và về sau mới hiểu: “Con đường thơ ấu thiêng liêng” chính là lối Chúa đã dọn sẵn để dẫn tôi đến hạnh phúc chân thật.

Với việc gặp gỡ Đức Kitô, tôi bắt đầu rụt rè chạm vào ánh ban mai vừa ló dạng. Nhưng bầu trời quanh tôi vẫn chưa rực rỡ. Tôi còn ở trong cảnh tranh tối tranh sáng. Hành trình đức tin chỉ mới khởi sự; những ngăn trở sâu trong tiềm thức vẫn còn đó.

4) Những bức tường vô hình với Cha Trên Trời

Qua các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, tôi có dịp học hỏi và nhận diện rõ ràng hơn dung mạo của Đấng đã dang cánh tay uy quyền cứu vớt tôi từ đáy vực sâu của tuyệt vọng. Tuy nhiên, tôi dần nhận ra ba chướng ngại lớn giữa tôi và Ngài.

Trước hết, tôi khao khát Thiên Chúa, nhưng trong tiềm thức tôi không thể tin Ngài thật sự là “Cha”. Cả cha lẫn mẹ trần thế đều bỏ rơi tôi; mọi người xung quanh nếu không hà khắc, thì cũng  thương hại. Làm sao người chưa từng nếm trải yêu thương có thể tin tình yêu ấy có thật?

Thứ hai, tôi được dạy phải phó thác, nhưng trong tiềm thức tôi luôn âm thầm hờn trách và chống đối. Tôi không hiểu vì sao Chúa tạo ra tôi trong bệnh hoạn và gia cảnh đổ vỡ rồi như “đem con bỏ chợ”. Ngài có đủ uy quyền làm kẻ chết sống lại, nhưng dường như làm ngơ trước nỗi bất hạnh hiện sinh của tôi.

Thứ ba, tôi choáng váng trước lời mời gọi yêu mến kẻ thù. Chịu quá nhiều mất mát và thiệt thòi, tôi không dễ đồng thuận. Một cuộc tâm chiến dữ dội bùng nổ, khi thương tổn vẫn âm ỉ dưới gót chân vô tình của chính người thân.

5) Cô độc giữa thế gian và trong Hội Thánh

Trong khi ấy, tương quan của tôi với thế nhân ngày một trượt dốc. Thời điểm ấy, tự kỷ hầu như chưa được biết đến ở Việt Nam; sự khác biệt của tôi nhanh chóng bị gán nhãn và dẫn đến kỳ thị. Đi đến đâu, tôi cũng gây ác cảm; vào đời, tôi khó tìm việc, khó giữ việc. Nỗi tủi nhục thời thơ ấu dần trở thành vấn đề sinh tồn khi tôi bước vào tuổi trưởng thành.

Tôi bị cô lập ngay trong chính Hội Thánh Chúa. Chỉ có vài người — trong đó có cha thiêng liêng và mẹ đỡ đầu — chưa bao giờ tỏ ra kỳ thị hay khinh miệt tôi. Tuy thân thiết, nhưng tôi chưa đủ nhận thức để biết trân quý đúng mực sự đồng hành âm thầm ấy. Trái lại, tôi cứ thần tượng hóa những người xem thường mình, để rồi chuốc lấy cay đắng khi bị loại trừ, nhục mạ ngay cả trong khuôn viên thánh đường.

Rồi tôi rời Việt Nam, sang sống ở nước ngoài. Tôi bị sốc trầm trọng trước những thánh đường nguy nga mà lạnh lẽo, vắng bóng tín đồ. Tôi lẻ loi giữa một xã hội vô thần thực tiễn: không chối từ sự hiện hữu của Thiên Chúa nhưng thờ ơ với sự hiện diện của Ngài. Sự cô độc gần như tuyệt đối ấy dần trở thành bước đệm đẩy tôi vào con đường đi hoang.

6) Đi hoang

Tôi gặp lại cha ruột và lần đầu nếm biết tình thâm phụ tử. Nhưng niềm vui ấy sớm hóa chua chát khi ông nhìn thấy khiếm khuyết giao tiếp nơi tôi và khăng khăng cho rằng tôi bướng bỉnh, thiếu ý chí. Tôi càng bị tổn thương sâu sắc khi cha tôi đem tôi ra so sánh với người khác. Những lời khuyên xuất phát từ sự tận tâm của ông lại chỉ khiến tôi rơi vào khủng hoảng nặng nề hơn.

Cuối cùng, tôi loạn trí cuồng tâm và ngã quỵ trước những thách đố của cuộc sống tự lập nơi đất khách. Tôi mất hẳn niềm tin và trôi dạt vào những ảo tưởng lệch lạc về chính mình. Cố ý khước từ ánh sáng Chân–Thiện–Mỹ, tôi nhanh chóng trở thành nô lệ cho Thần Tối Tăm. Tâm linh tôi lao thẳng vào vũng lầy của dục vọng thấp hèn và những toan tính tăm tối.

Tôi lẩn tránh Thiên Chúa triệt để trong tâm tưởng, lời nói và việc làm — thế nhưng Ngài vẫn âm thầm hiện hữu và chờ đợi. Đó là những ngày tháng tối tăm dưới ngọn lửa của hỏa ngục trần gian, còn đen đặc hơn cả những ngày tôi chưa từng biết đến Danh Thánh Thiên Chúa.

7) Cha Trên Trời sai hai “thiên thần”

Khi mọi nỗ lực tự cứu cạn kiệt, một chuỗi gặp gỡ tình cờ đã dần kéo tôi trở về, như người con hoang đàng. Nhưng tôi không đủ sức tự đứng dậy. Mặc cảm tội lỗi nặng nề trì níu tôi. Giữa lúc ấy, một lời thức tỉnh vang lên: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?”

Thiên Chúa sai hai “thiên thần” bồng bế tôi về: một linh mục Dòng Tên tình cờ học chung, và một chủng sinh trở thành bạn chung nhà. Người bạn đời tương lai — dù bên lương — lại gián tiếp cảm hóa tôi bằng sự chân thành và ngay thẳng của anh. Nhờ họ, lần đầu tôi đón nhận ánh mắt cảm thông thật sự của con người hữu hình, và qua đó nhận ra tia nhìn tha thứ nhưng không của Thiên Chúa vô hình.

8) Trở Về

Ơn tha thứ ấy không chỉ băng bó vết thương đang nhức nhối; nó mở ra một lối đi mới. Những giày vò tội lỗi bắt đầu tan rã trước tia nhìn xót thương của Cha Trên Trời. Trở về Nhà Cha, tôi được đón nhận bằng một chuỗi ân huệ: lập gia đình, có công việc ổn định. Rối loạn phổ tự kỷ không biến mất, nhưng giảm bớt phần nào. Tuy vậy, hạnh phúc vẫn chưa trọn vẹn: cơn đói khát yêu thương trong tôi vẫn day dứt, và các bức màn tâm linh vẫn ngăn cách tôi với Suối Nguồn Yêu Thương.

Rồi tôi sinh bé gái đầu tiên. Vài năm sau, thêm một bé trai chào đời. Lạ lùng thay, khi tôi tự nguyện trao cho con trẻ một tình yêu thương vô điều kiện, tôi mới bắt đầu cảm nghiệm hết chiều sâu của tình yêu thương nơi Người Cha Thiên Quốc. Trải nghiệm làm mẹ cũng giúp tôi dần hiểu thấu và tha thứ cho người mẹ trần thế của mình. “Có sinh con mới biết lòng cha mẹ” — tôi nghiệm ra điều ấy bằng chính nước mắt và những ngày dài tìm kiếm yêu thương.

9) Biến cố tội ác và chiếc chìa khóa nghịch lý

Giữa lúc ấy, một biến cố dữ dội xảy ra: một vụ án sát nhân tại Việt Nam mà tôi theo dõi từ nước ngoài qua nguồn tin mạng. Tôi giữ nguyên tắc tôn trọng nạn nhân: không kể bạo lực, không nêu tên; tôi chỉ ghi lại những chuyển động nội tâm mà biến cố ấy gây nên nơi tôi.

Điều làm tôi chấn động không phải là bản chất bạo lực của tội ác, mà là nghịch lý đi kèm: người gây án không mang dáng dấp tử tội điển hình. Anh có những điều tôi từng khao khát: gia đình nề nếp, mái ấm yêu thương, tài năng, hoạt ngôn. Thế nhưng đời anh lại kết thúc thảm khốc hơn cả đời tôi. Nghịch lý ấy lật ngược nhãn quan của tôi về hạnh phúc. Nó làm bật tung cánh cửa nội tâm, buộc tôi đối diện lại với vấn đề đau khổ, sự dữ, và mầu nhiệm quan phòng.

Chính nghịch lý ấy — một con người sở hữu mọi điều tôi khao khát lại sa vào một kết cuộc bi đát — đã làm đảo lộn tận căn nhãn quan của tôi về hạnh phúc. Tôi không biện minh cho tội ác. Trái lại, tôi xin tỏ lòng đồng cảm với nỗi mất mát không thể bù đắp được của gia đình nạn nhân. Tôi chỉ sững sờ nhận ra: từ những thực tại tàn khốc nhất, Thiên Chúa vẫn có thể làm phát sinh ân sủng để thức tỉnh một tâm hồn — và đưa một kẻ lầm lạc như tôi bước vào con đường hoán cải toàn diện.

10) Chân lý giản đơn của hạnh phúc

Biến cố ấy dần hé lộ cho tôi một chân lý vốn hiển nhiên về hạnh phúc — điều mà ít ai nhận ra: hạnh phúc đích thật không phải là chiếm hữu mọi thứ mình mong muốn, mà là biết bằng lòng, đón nhận tất cả những gì Thiên Chúa trao ban, và cảm tạ Ngài.

Lòng ham muốn của con người vô đáy. Nếu cứ đợi đủ mọi ước nguyện mới hạnh phúc, thì sẽ không bao giờ hạnh phúc. Hạnh phúc nằm ngay trong tầm mắt, nhưng con người thường mù tối, lại mê mải vươn tay vào cõi hư không. Sau nửa đời lao đao tìm kiếm, tôi mới vỡ lẽ: tất cả bí quyết hạnh phúc được gói trọn trong hai tiếng “xin vâng” của Đức Mẹ và trong thái độ lắng nghe bình dị của Thánh Nữ Maria Bêtania.

Từ đó, đời tôi bước sang trang mới của những ngày tháng bình an sâu lắng và hạnh phúc bất tận. Vết thương lòng tưởng không ai băng bó được nay dần được chữa lành. Tôi không còn nhìn tự kỷ như căn nguyên gốc rễ của bất hạnh; trái lại, tôi bắt đầu nhận chân đó là ân huệ Chúa ban, là lộ trình Chúa dùng để dẫn con thuyền đời tôi cập bến hạnh phúc.

11) Ơn chữa lành tiệm tiến — Ân sủng Thiên Chúa và cộng tác loài người

Theo quan điểm y học hiện đại, rối loạn phổ tự kỷ là một rối loạn phát triển bẩm sinh, chưa có phác đồ chữa khỏi dứt điểm. Can thiệp chuyên môn và đồng hành gia đình thường chỉ giúp cải thiện một phần kỹ năng sống. Nhưng lạ lùng thay, đúng lúc tôi buông bỏ mọi bám víu và vâng phục kế hoạch quan phòng, Thiên Chúa đã ban cho tôi ơn chữa lành — khởi sự từ tâm linh và lan dần sang tâm lý.

Đó không phải phép lạ tức thì, mà là một tiến trình tiệm tiến ngày qua ngày. Cốt lõi của tự kỷ nơi tôi, tựu trung, nằm ở sự thiếu khả năng tự học hỏi và tự điều chỉnh qua các tương tác xã hội. Ơn chữa lành của Thiên Chúa, cốt yếu, là trả lại cho tôi chính năng lực nền tảng ấy, dù những khó khăn giao tiếp vẫn còn. Bởi ân huệ này đến với tôi khi đã trưởng thành, tôi phải bắt đầu gần như từ con số không, như đứa trẻ tập đi: mày mò, thử nghiệm, vấp ngã, suy xét lại, và học tự điều chỉnh trong những cuộc gặp gỡ hằng ngày.

Chính trong sự cộng tác bền bỉ ấy, những khiếm khuyết trong giao tiếp nơi tôi dần được tháo gỡ; các tương quan trong đời sống từng bước đi vào hài hòa và ổn định hơn — không phải bằng nỗ lực thuần túy nhân loại, mà trong quyền năng của ơn thánh hóa.

Nhìn lại, hành trình chữa lành của tôi là một bản hòa ca giữa Ân Sủng và Tự Do. Thiên Chúa ban ân sủng, nhưng Ngài không thay thế con người; Ngài mời gọi con người cộng tác. Ân sủng của Ngài như dòng nước mát không bao giờ cạn; còn sự cộng tác của tôi chỉ như đôi bàn tay nhỏ bé úp lại để hứng lấy từng giọt. Tôi không thể tạo ra dòng nước, nhưng có thể chọn mở lòng đón nhận.

12) Ý nghĩa đích thật của đau khổ và sự dữ

Vì sao một Thiên Chúa toàn thiện lại cho phép sự dữ tồn tại? Vì sao kẻ gian ác nhởn nhơ, người công chính lại ngậm thảm nuốt sầu? Đây là dấu hỏi của nhân loại, và cũng là mối trăn trở của tôi.

Biến cố ấy cho tôi một lời giải đáp mà lý trí thuần túy khó đồng thuận: Thiên Chúa không hủy diệt sự dữ bằng bạo lực, nhưng biến chính sự dữ thành chất liệu để kiến tạo sự lành. Ngài không thanh trừng kẻ ác bằng quyền năng, nhưng chinh phục lòng người bằng Thập Giá và Phục Sinh.

Cho đến nay, tôi vẫn chưa hoàn toàn bình tâm khi nghĩ đến cái giá khủng khiếp đã được trả. Đau khổ của gia đình nạn nhân là có thật, kéo dài, và không thể bị xóa nhòa bằng bất kỳ luận cứ thần học nào. Tôi không tìm cách làm giảm nhẹ hậu quả của tội ác. Tôi chỉ bàng hoàng nhận ra: ngay trong bóng đêm tăm tối nhất, ánh sáng cứu độ vẫn có thể bừng lên — không xóa bỏ vết thương, nhưng chiếu soi, chữa lành, và khai mở một sự sống mới.

Đoạn kết: Tiếng “xin vâng” và chân trời hạnh phúc

Giờ này nhìn lại, tôi thấm thía câu nói: “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ.” Bà ngoại từng lo lắng cho tương lai tôi trên lãnh vực việc làm và gia thất. Thế nhưng dưới bàn tay Quan Phòng của Cha Trên Trời, đời tôi không rơi vào ngõ cụt. Tôi có gia đình êm ấm và công việc ổn định.

Tôi nhận ra căn nguyên sâu xa của bất hạnh không hẳn là nghèo khó hay bệnh hoạn, mà là lòng nhát đảm không dám đặt trọn tín thác nơi Thiên Chúa và tìm kiếm Nước Ngài trước đã.

Trước kia, tôi từng oán trách Chúa vì những an bài nghiệt ngã của đời mình. Nhưng nay, nếu như được sinh ra lần nữa, tôi sẽ chọn đón nhận trọn vẹn tất cả những gì Ngài đã ban — kể cả rối loạn phổ tự kỷ nghiệt ngã và gia cảnh tan vỡ trái ngang — vì Thiên Chúa là Đấng yêu thương và quyền năng, Ngài đã nâng tôi khỏi vực sâu của khổ đau, lau khô nước mắt và dẫn dắt tôi đến nguồn mạch của an bình, hạnh phúc vĩnh cửu đích thật nơi Ngài.

Giờ đây, lời “xin vâng” của Đức Maria trở thành lời “xin vâng” của tôi: không phải một khẩu hiệu đạo đức, mà là một tiếng thưa mở lòng trước thánh ý của Thiên Chúa. Và từ đó, hạnh phúc không còn là ảo ảnh xa vời, mà trở thành một thực tại nội tâm: nơi an bình và niềm vui bền vững được gieo trồng, lớn lên, và trổ sinh hoa trái từng ngày.

Tháng 7 năm 2013 — Năm đức tin 20122013

Hiệu đính: tháng 1 năm 2026