Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2016

Hãy xin sẽ được…

Hãy xin sẽ được…


Nơi xóm đạo nhỏ bé nọ, có một nàng chiên nức danh là xinh xắn, đức hạnh. Trai tráng trong xóm, lắm kẻ đã đem lòng thầm thương trộm nhớ. Trong số đó, có hai chàng nổi bật hơn hết, môn đăng hộ đối, cả đạo lẫn đời. Vì thế, nàng rất phân vân, chưa biết nên lấy ai, bởi khổ nỗi, cứ mỗi lần toan chọn anh này thì lại thấy tiếc nuối anh kia.

Loay hoay mãi, vẫn không đi đến đâu. Thế là sau cùng, cũng như bao nhiêu con chiên sùng đạo khác, nàng quyết định... phó thác trong tay Chúa! Nàng vào thánh đường, thành tâm quỳ gối, một tay cầm tràng hạt, tay kia nắm chặt chiếc rổ đựng hai mẩu giấy ghi tên hai chàng trai nọ. Nàng sốt sắng lần một lèo ba chuỗi, đoạn thì thầm khẩn nguyện :

-       Lạy Chúa, chỉ có Chúa mới là Đấng Toàn Tri. Hơn nữa, Ngài cũng từng hứa : « Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ sẽ mở cho ». Vậy nên con khấng xin Chúa cùng Mẹ Maria giúp con chọn ra người tốt nhất trong số hai anh này để lấy làm chồng...

Nói xong, nàng hồi hộp lần tay vào rổ, rồi ngây người ngắm nghía mẩu giấy đang nằm gọn trong tay. Yên trí đó chính là người Chúa chọn, nàng hớn hở trở về và vui vẻ đáp lời cầu hôn của chàng...

Không bao lâu, một lễ cưới linh đình đã diễn ra. Cô dâu khả ái sánh vai cùng chú rể hào hoa, hân hoan bước vào thánh đường, âu yếm trao nhau lời thề hứa bên nhau trọn đời trước Nhan Thánh Chúa và lời chúc phúc chân thành của cha xứ và thân bằng quyến thuộc hai bên.

***
Nhưng hỡi ơi, cuộc đời nhân thế vốn là bể khổ trầm luân, bởi lẽ… tình yêu nào rồi cũng dần phai nhạt, hạnh phúc nào rồi cũng chóng qua đi… Sáu năm sau, chàng đã phũ phàng giũ áo, rời bỏ mái ấm thân thương, say sưa đuổi theo tiếng gọi của con tim đã thay đổi...

Nàng đổ sụp trong đau khổ thê lương, thẫn thờ xoa chiếc bụng căng tròn vừa mới cưu mang một hài nhi bé nhỏ. Nàng nặng nề lê gót đến nhà xứ với hàng lệ lưng tròng...

-       Thưa cha, Chúa đã từng nói : « Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ sẽ mở cho ». Vậy mà bây giờ Ngài nỡ thất hứa, chọn cho con một kẻ bội bạc...

Cha xứ chăm chú lắng nghe nàng thổn thức kể lại đầu đuôi với âm điệu trách móc đắng cay. Lúc đầu, cha xứ cũng cảm thấy xót xa cho một gia cảnh ly tán đoạn trường, nhưng rồi những lời « buộc tội » quá đà đối với Chúa đã khiến ngài không khỏi khó chịu. Nàng vừa dứt lời, cha xứ điềm tĩnh hỏi vặn :

-       Ủa, con đã xin gì được nấy rồi, còn than thở gì nữa???

Nàng trố mắt kinh ngạc trước lối hỏi xốc hông của cha xứ. Không ngăn nổi ánh mắt bất bình ngấm ngầm, nàng chua chát đáp :

-       Thưa cha, chẳng phải chồng con vừa mới nhẫn tâm bỏ rơi vợ con?

Nàng nghẹn ngào buông thõng chữ « con », đau đớn nghĩ đến một đứa trẻ không cha sắp sửa chào đời. Cha xứ không đáp thẳng, từ tốn hỏi thêm :

-       Có phải con đã xin Chúa chọn cho con người tốt nhất trong số hai anh đến cầu hôn?

Nàng ngập ngừng gật đầu xác nhận. Cha xứ được đà, bình thản giải thích :

-       Thì đó! Chúa là Đấng Toàn Tri mà. Con không nhớ sao? Anh kia cũng đã quay lưng với gia đình sau khi thành hôn được 6 tháng. Chồng con thì chí ít, đến 6 năm sau mới bỏ đi. Như vậy, chẳng phải chồng con còn tốt lành hơn anh kia gấp mấy lần sao?

Lời nhận xét xác đáng của cha xứ khiến nàng sửng sốt đến á khẩu. Nàng vẫn chưa quên, vừa khi nghe tin anh nọ mới cưới vợ không bao lâu đã sinh tật « có mới nới cũ », nàng đã bàng hoàng cảm tạ Chúa Nhân Từ run rủi cho nàng thoát khỏi cạm bẫy của một gã Sở Khanh. Ngờ đâu hôm nay, người bạn trăm năm do chính Chúa chọn cũng dấn mình vào vết xe đổ đó.

Tuy nhiên, dẫu cha xứ có lý đến đâu, nàng đâu thể dễ dàng chấp nhận sự kiện trớ trêu như thế xảy đến với mình! Tâm can đang tê tái bỗng dưng lại buốt nhói, nàng lảo đảo đứng lên, lầm lũi quay gót, quên cả từ biệt cha xứ…

***
Cha xứ vẫn ngồi thừ trong phòng khách, thoáng ân hận vì đã nóng giận lỡ lời. Thật ra, với tư cách chủ chiên, ngài chỉ có thành ý giúp nàng can đảm đối diện thực tế mà không hờn trách Chúa một cách vô lối. Ngoài ra, ngài chưa biết nên khuyên bảo thế nào vì chính bản thân ngài cũng bàng hoàng chấn động trước sự kiện cả hai chàng trai đạo hạnh và danh giá bậc nhất bậc nhì trong giáo xứ, lại lần lượt nối bước nhau vào nẻo đường tác tệ đến như vậy! Thật là không thể nhìn mặt mà bắt hình dong mà!

Ngọn gió chiều mát rượi bất chợt thổi đến như muốn xoa dịu cõi lòng nặng trĩu của cha xứ. Ngài lim dim mắt, lần tay vào túi áo tìm tràng hạt, với ý định cầu xin Chúa hướng dẫn ngài tìm ra giải pháp thỏa đáng cho nàng chiên đáng thương kia… Lạ thay, chuỗi Mân Côi đã không cánh mà bay! Chẳng lẽ ngài vô ý đánh rơi đâu đó? Nghĩ vậy, cha xứ đủng đỉnh đứng lên, lững thững bước ra ngoài…

***
Nàng cắm cúi rảo bước về phía cổng như muốn chạy trốn khỏi thế giới bạc bẽo... Coong… Chân nàng vô tình vấp phải vật gì, tạo ra tiếng kêu lách cách trên nền gạch bóng loáng. Nàng loạng choạng vài giây rồi khựng lại, cúi xuống nhặt lên. Thì ra là một chuỗi Mân Côi bằng đá rất đẹp. Bấy giờ, cha xứ cũng vừa bước xuống bậc tam cấp. Bắt gặp nàng đang ngơ ngác mân mê chuỗi tràng hạt trong tay, một luồng ánh sáng bỗng lóe lên trong trí cha xứ. Ngài tiến lại gần, ôn tồn bảo :

-       Tràng hạt này do chính tay Đức Thánh Cha làm phép và Đức Cha đã tặng cho các linh mục trong giáo phận sau chuyến đi Roma vừa rồi. Nhưng bây giờ, cha tặng lại cho con…

***
Nàng trở về, thầm lặng sinh nở và vò võ nuôi con trong cô lẻ lẫn hờn oán đủ điều. Mỗi cuối tuần, nàng vẫn hòa mình vào dòng người đông đảo túa vào thánh đường dự Lễ nhưng đi cho có lệ thôi, cốt là né tránh ánh mắt dị nghị nghiêm khắc của cha mẹ họ hàng. Ngoài ra, nàng đã buông lơi thói quen chăm chỉ đọc kinh sáng tối bởi niềm tin nhiệt thành thưở xưa đã hoàn toàn tan vỡ theo bước chân vô tâm của một kẻ bạc tình…

Vì thế, chuỗi tràng hạt của cha xứ đã bị xếp xó vào một góc. Chẳng bao lâu, con trai nàng đã đến tuổi sinh hoạt Thiếu Nhi Thánh Thể và học Giáo Lý. Tuần nào, các xơ cũng lập phần thưởng khuyến khích các em tập cầu nguyện. Con nàng rất hăng hái thi đua, nhưng khổ nỗi, thằng bé chẳng chịu đọc kinh một mình, mà cứ nằn nì vòi mẹ đọc chung. Cực chẳng đã, nàng đành lôi chuỗi Mân Côi ra. Ngắm nghía những viên đá chiếu sáng lấp lánh, nàng bất giác nhớ lại lời dặn dò ân cần của cha xứ ngày nào :

-       Nhớ siêng năng lần hạt mỗi ngày, cầu xin Chúa giúp chồng sớm hồi tâm, con nhé…

Hồi tưởng đến đây, vết thương lòng ngỡ đã lành bỗng chốc lại nhói đau. Nàng nhếch môi cười nhạt, hé lộ nỗi ngờ vực cay đắng. Tuy nhiên, vì con, nàng cũng đành « nhượng bộ » cầu nguyện với con vậy.

***
Thời gian thấm thoát trôi nhanh như thoi đưa. Con trai nàng càng lớn càng giống bố như tạc, đã thế còn thường xuyên nhắc nhở người cha mà nó chỉ được nhìn thấy trong tập ảnh gia đình. Một hôm, nàng ngậm ngùi bắt gặp con phủ phục trước bàn thờ Chúa, đơn sơ chắp tay thỏ thẻ :

-       Chúa ơi, cha xứ dạy là Chúa có hứa « Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ sẽ mở cho ». Vậy bây giờ con nghéo tay với Chúa nhé. Chúa ráng giữ lời hứa nhé. Xin Chúa đem bố về với con. Con nhớ bố lắm. Bạn của con, đứa nào cũng có bố c...

Nói tới đó, thằng bé bỗng tủi thân mếu máo rồi òa khóc ngon lành. Chứng kiến tình cảnh bi ai của một đứa con xa cách cha, nàng không khỏi se lòng thắt dạ, âm thầm nuốt nước mắt vào tim. Kể từ hôm ấy, nàng bắt đầu quyết tâm cùng con trẻ chuyên cần cầu nguyện hằng ngày. Niềm tin đã tắt ngúm một thời cũng nhờ đó mà được thắp sáng dần lên...

***
Một ngày nọ, nàng đến trường đón con sau giờ làm việc như thường lệ. Từ xa, nàng cau mày nhận ra con trai đang trò chuyện với một gã lạ mặt nào đó. Gã quay lưng lại phía nàng, nên nàng không nhận dạng được là ai. Chẳng biết gã nói gì mà thằng bé đột nhiên ôm choàng lấy gã. Vỗ về nó một hồi, gã thản nhiên nắm tay nó kéo đi. Nàng hốt hoảng lao tới, la toáng lên :

-       Bớ làng nước ơi, có kẻ bắt cóc con tôi!

Nghe tiếng kêu thất thanh của nàng, đám đông hiếu kỳ vội vã vây quanh lấy hai người. Gã đàn ông quay phắt lại. Nàng sững sờ ngó gã, tay chân run lẩy bẩy, miệng lắp bắp không thốt nên lời. Riêng gã kia lại hớn hở gạt đám đông qua một bên, xềnh xệch lôi thằng bé về phía nàng :

-       Mọi người về hết đi. Không có ai bắt cóc ai hết. Đây là vợ, là con của tôi!

***
Mấy chục năm sau…

Hôm ấy, xóm đạo bé nhỏ tưng bừng tổ chức lễ vàng hôn phối. Lão ông lão bà, đầu tóc bạc phơ, khóe mắt chi chít vết chân chim, âu yếm dìu nhau tiến vào thánh đường, trang trọng lập lại lời thề hứa mà họ đã trìu mến trao nhau cách đây 50 năm về trước, trước sự chứng kiến và cổ võ nồng nhiệt của con trai, con gái, dâu rể và cháu chắt nội ngoại...

Khi màn đêm buông xuống, trong căn phòng được trang trí rực rỡ thành phòng tân hôn, lão bà khép nép ngồi vào góc giường, e ấp như nàng dâu mới cưới. Lão ông lọm khọm tiến tới, run run nắm tay lão bà, thì thầm trong yêu thương :

-       Anh cảm tạ Chúa và Mẹ Maria mỗi ngày vì đã ban cho anh người vợ tuyệt vời như em…

Lão bà nguýt dài, đẩy lão ông ra. Lão ông ngoan cố không buông, còn ôm chầm lấy vợ :

-       Thật mà! Khi xưa, anh đã từng nài xin Chúa rằng, lạy Chúa, nếu quả thật là « Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho », xin hãy an bài cho con kết hôn với người thiếu nữ con yêu…

Lão bà lúng liếng lườm yêu chồng, thủ thỉ :

-       Xưa kia, em cũng xin Chúa chọn cho em người chồng tốt nhất…

Lão bà bỏ lửng câu nói. Nghe đến đây, nét mặt lão ông thoáng buồn, vòng tay đang xiết chặt chợt nới lỏng. Ông tiếp lời vợ bằng giọng đứt quãng, chứa đầy ân hận :

-       Anh... anh... đâu phải là người chồng tốt. May mắn em đã chịu tha thứ…

Không để cho lão ông nói hết câu, lão bà vội đưa tay lên miệng ông, ngăn lại :

-       Anh nghĩ xem, nếu chuyện lỡ lầm năm xưa không xảy ra, gia đình mình có được như hôm nay không? Đối với em, anh chính là người chồng tốt nhất trên đời và em hằng cảm tạ Chúa đã nhận lời em cầu xin...

Ngay lúc đó, đám con cháu tinh nghịch đang rình rập bên ngoài lập tức túa hết vào buồng. Anh con trai cả tóc đã hoa râm, vui vẻ hét vang nhà :

-       Chúa cũng nhận lời con cầu xin, ban cho con cả cha lẫn mđều hoàn hảo tuyệt vời...

Mọi người đồng tình vỗ tay reo hò, tán thưởng. Khắp căn phòng chật hẹp rộn rã tiếng nói cười hạnh phúc. Riêng lão bà, bị « bắt gặp quả tang », thẹn thùa giấu mặt vào ngực lão ông.

***
Đêm ấy, ngoài trời trăng sao nhấp nháy lung linh, rọi ánh sáng mờ ảo vào căn phòng đã tắt đèn, làm in hằn lên vách, chiếc bóng đổ dài của đôi uyên ương ở tuổi xế chiều đang quấn quýt trao nhau nụ hôn cuối đời vẫn đượm nồng hơi ấm của yêu thương…

07-2016


Thứ Hai, 30 tháng 5, 2016

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù…

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù…



Viết về Mẹ nhân ngày Lễ Mẹ


Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót 2015-2016

Kính tặng Cha Anphonsô Phạm Gia Thụy, CSsR, với tất cả lòng tri ân







Lễ Mẹ có lẽ là dịp để người ta bồi hồi nhắc nhớ những ký ức ngọt ngào về Mẹ và tha thiết dâng lên Mẹ những tâm tình tri ân chân thành nhất. Riêng tôi, chữ “Mẹ” thân quen ấy lại gắn liền với một ký ức đau thương và in hằn lên thời niên thiếu buồn tủi của tôi một vết thương lòng nhức nhối khôn nguôi…

Tôi không may mắn chào đời giữa gia cảnh đổ vỡ trái ngang. Cha tôi đã rời bỏ mẹ khi tôi vẫn còn trong dạ bà. Mẹ tôi giận cá chém thớt, nên bao nhiêu nỗi niềm oán hận đối với cha, bà đều đem trút hết lên con. Thật ra, tôi không đến nỗi bị bạo hành về thân xác nhưng tâm hồn tôi luôn buốt giá bởi thái độ rẻ rúng hững hờ hay tơi tả dưới những lời lẽ đay nghiến cay nghiệt.

Thế là, suốt quãng đời thơ ấu bất hạnh của mình, tôi luôn trăn trở trong nỗi khát khao thầm lặng duy nhất. Ấy là ánh mắt dịu dàng và bàn tay êm ái của mẹ. Nhưng hỡi ôi, giấc mộng rất đỗi bình dị và chính đáng ấy chưa bao giờ có cơ hội hóa thành hiện thực… Tôi được nghe nói rất nhiều về Mẹ, về cái hương vị thơm ngát dịu ngọt của Tình Mẹ bát ngát bao la mà tôi chưa từng có diễm phúc nếm trải qua. Biết bao lần, tôi lặng lẽ thả hồn theo âm điệu du dương da diết của bài ca “Lòng Mẹ”, thẫn thờ ngắm nhìn những đứa trẻ rạng rỡ quanh mình, mà ngậm ngùi nuốt nước mắt vào lòng, khắc khoải với cảm giác thèm thuồng được một lần rúc mình vào vòng tay vỗ về ấm áp của mẹ, say sưa đắm chìm vào giấc ngủ bình yên nhất của cuộc đời…

Về phần mẹ tôi, trở nên đơn thân ở tuổi đời còn quá trẻ, đương nhiên bà luôn ao ước tìm được một nhịp cầu tri âm hầu giải tỏa nỗi hiu quạnh, trống vắng của cuộc đời cô phụ. Khổ nỗi, mẹ tôi sống giữa thời chinh chiến loạn lạc. Thanh niên trai trẻ thời ấy, không phơi thây nơi chiến trường, hay mạng vong bởi tai nạn, số ít còn lại, nếu đem chia đều ra, có lẽ cũng đủ cho mỗi ông cặp kè với ít nhất vài ba bà. Mẹ tôi, với nhan sắc tầm thường, lại một nách con thơ, làm sao có đủ cơ may đua tranh với các địch thủ trẻ trung, xinh đẹp khác nơi chốn tình trường?

Cứ như thế, các đấng mày râu có bước vào đời mẹ tôi, đều chỉ vì mưu cầu cá nhân. Được việc rồi, thì phũ phàng phủi tay, giũ áo ra đi… Vì thế, mẹ tôi càng thêm cay đắng với tôi, bởi bà cho rằng sự hiện diện thừa thãi của tôi chính là cái gai nhọn chướng thối gây trở ngại cho các mối duyên lành đến với bà…

Cuối cùng, khi tôi vừa đặt chân vào ngưỡng cửa Trung Học, mẹ tôi cũng thành tựu tìm được một nửa của đời mình, theo nghĩa là người ấy chấp nhận kết hôn với mẹ chứ không quất ngựa truy phong như bao gã họ Sở khác. Tuy nhiên, ngoài điểm khác biệt ấy ra, so với mấy gã nhân tình trước kia của mẹ, lão ta cũng thuộc hạng cá mè một lứa, hay nói huỵch toẹt ra, chẳng qua chỉ là kẻ lừa tình, kẻ tống tiền, có thế thôi.

Ấn tượng đầu tiên của tôi đối với vị hôn phu của mẹ là dung mạo của lão không được sáng sủa cho lắm. Điều này có thể chỉ xuất phát từ nhận xét chủ quan của bản thân tôi, bởi lẽ “ghét ai, ghét cả đường đi lối về”. Thế nhưng có một điểm mà chắc chắn tôi chẳng hề nói oan cho lão tý nào. Ấy là, lão không chỉ thua tuổi tác, kém học thức hơn mẹ tôi mà còn vô công rỗi nghề, ngày qua tháng lại, chỉ biết mỗi việc là lang thang từ đầu làng đến cuối xóm, nhậu nhẹt say xỉn, rồi đứng ngồi xiêu vẹo, lè nhè phát ngôn bừa bãi, không còn chút tư cách, thể diện nào nữa.

Một kẻ bê tha bệ rạc như thế, mà đòi làm… cha tôi, dĩ nhiên là tôi không… phục! Vì thế, tôi không ngần ngại vồ vập cơ may thuận tiện nào hòng phá bĩnh một cuộc hôn nhân mà tôi cho là “tréo cẳng ngỗng”. Và tôi đã thầm nở nụ cười đắc ý khi thấy mình không đơn độc trong cuộc chiến cam go này bởi tất cả mọi người xung quanh, từ họ hàng, láng giềng, cho đến bạn bè, ai ai cũng đồng lòng công khai hay ngấm ngầm đứng về phía tôi. Tuy nhiên, rốt cuộc, tôi vẫn thua cuộc thảm hại, lý do đơn giản là vì mẹ tôi mới nắm quyền quyết định sau cùng. Sau bao nỗ lực quấy rối bất thành, tôi đành ấm ức nhìn mẹ và cha dượng hân hoan tay trong tay, tiến vào thánh đường làm lễ hôn phối và buộc phải cay đắng chấp nhận đội chung nhà với một kẻ mà tôi đã từng thề thốt nặng lời là sẽ không bao giờ đội chung Trời.

Nói cho công bằng, đem so với cái đám trai tráng bạc bẽo đầy rẫy xung quanh tôi, cha dượng tôi không đến nỗi bị xếp vào hàng tệ bạc bậc nhất. Ít ra, xét về bề ngoài, lão lúc nào cũng tỏ ra ngọt ngào, yêu chiều cả hai mẹ con tôi và ngay trong những cơn say xỉn quắc cần câu, lão chỉ bất quá nói năng lảm nhảm, chứ chưa bao giờ bạo hành gia đình. Tuy nhiên, tôi vẫn không tài nào ưa được những luận điệu mật ngọt mà tôi kiên quyết gán cho cái nhãn hiệu giả dối. Khó chịu hơn nữa là những trích dẫn phô trương từ Kinh Thánh mà lão thường xuyên trịch thượng rót vào tai tôi hòng giáo huấn tôi những thứ đạo lý vô nghĩa nhất trên đời.

Gai mắt nhất là sự kiện cha dượng tôi không chỉ ăn không ngồi rồi, lại còn vung vãi tiền bạc cho những cuộc chơi bời thỏa chí với bạn bè. Phải chi của cải do chính bàn tay lão gầy dựng nên! Đằng này, mẹ tôi phải tằn tiện, ky cóp trong bao nhiêu năm trời mới tích lũy được một chút vốn liếng, bây giờ cứ không cánh mà lần hồi bay đi. Gia sản càng hao hụt, mẹ tôi càng xiết chặt các chi tiêu cần thiết dành cho tôi. Cuối cùng, tôi buộc phải vừa học vừa đan móc, may vá để kiếm thêm thu nhập cho các khóa luyện thi ngoài giờ.

Sự dị ứng của tôi đối với cha dượng đã vọt lên đến đỉnh điểm vào lúc lão bắt đầu giở thói xàm xỡ đồi bại đối với tôi. Cơn hỏa khí đang ngùn ngụt trong tôi càng thêm bùng phát dữ dội khi mẹ tôi một mực bênh vực lão cha dượng vô liêm sỉ, đoạn thản nhiên giáng cho tôi vài bạt tai xiểng liểng.

Kể từ đó, tôi bắt đầu nuôi dưỡng lòng thù hận. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là thù hận, một thứ cảm giác thiêu đốt nóng bỏng rất khó chịu, không những không nguôi ngoai, mà còn trở nên ngút ngàn theo thời gian. Ban đầu, tôi chỉ ghét cay ghét đắng lão cha dượng trơ trẽn lố bịch, nhưng dần dà, nỗi căm hận dai dẳng ấy đã lây lan qua cả người mẹ luôn lạnh lẽo vô cảm, đặc biệt là mỗi khi mẹ tôi không ngần ngại trừng phạt thái độ ngỗ nghịch của tôi đối với cha dượng bằng cách cắt bỏ thêm những khoản chi dùng vốn đã trở nên rất hạn hẹp đối với tôi.

Chẳng bao lâu, hoa quả của mối nghiệt duyên ấy đã chào đời. Một đứa trẻ dị tật bẩm sinh! Đáng lẽ bao nhiêu nỗi bất hạnh trong đời phải sớm tạo nên nơi tôi mối đồng cảm sâu xa với đứa em tàn phế, lại trở nên thứ tù ngục oan khiên nhốt kín tôi trong cô quạnh và các mưu toan rửa hận cay độc. Vì vậy, thay vì bày tỏ tình thương yêu và lòng thông cảm, tôi đã nhẫn tâm phá lên cười đắc ý trước sự ra đời của một sinh linh thiếu may mắn và độc ác trả đũa một kẻ hoàn toàn vô can bằng thái độ dửng dưng, bàng quang, xa cách.

Với sự xuất hiện của một thành viên mới, tôi lập tức bị hạ cấp thành thứ công dân hạng bét, luôn phải chịu đựng mọi sự phân biệt đối xử vô lý, bất công. Tài chính gia đình càng lúc càng trở nên khánh kiệt. Mẹ tôi phải liên tiếp bán nhà lớn hơn, mua nhà nhỏ hơn. Các nhu cầu tối cần thiết hằng ngày của tôi lập tức bị xếp xó vào hàng ưu tiên sau cùng trong các khoản chi thu gia đình. Đã thế, tôi đột nhiên hóa thành thứ đày tớ không công, phải gồng gánh hết mọi thứ công việc chồng chất trong nhà. Bỗng dưng phải è cổ nai lưng ra hầu hạ một kẻ không chút máu mủ ruột rà trong lúc lão xa hoa phè phỡn, khối ung nhọt ân oán canh cánh trong lòng càng thêm lở loét và loang lổ.

Nói cho chính xác, tôi hận cha dượng tôi, tôi hận mẹ tôi và tôi hận cả đứa em tàn tật vô tội của tôi. Cuộc sống vốn dĩ đã khốn khổ của tôi chẳng mấy chốc hóa thành chốn Hỏa Ngục Trần Gian khi tôi bị chính cảm giác hỷ nộ ái ố thất thường của bản thân gậm nhấm và giày vò không dứt. Ý tưởng phục thù tăm tối đã bóp nghẹt trái tim tươi trẻ của tôi, làm biến thái tâm hồn trong sáng của tôi đến mức dám nung nấu cả toan tính sát nhân. Tôi tức tối nghiền ngẫm kế hoạch hạ độc lão cha dượng đáng hận kia, cho lão đoàn tụ quách với… ông bà, có như thế, lão mới vĩnh viễn biến mất khỏi cuộc đời tôi. Dĩ nhiên, tôi không bao giờ có đủ dũng khí thực hiện âm mưu hiểm ác ấy. Trong cơn bế tắc cùng cực, tôi đã liều lĩnh leo lên lầu cao, tần ngần toan buông mình vào cõi hư vô đời đời nhưng tôi đã kịp thời kìm hãm lại, không phải vì e sợ cái chết cho bằng nỗi ngại ngùng phải giáp mặt với cuộc sống bí ẩn ở đời sau.

Tốt nghiệp xong Trung Học, tôi không tiếp tục học lên cao mà theo đuổi nghề may. Bấy giờ, kinh tế gia đình đã kiệt quệ lắm rồi, nhất là sau khi một đứa em nữa ra đời, nên tôi phải ngưng học dở dang và đi làm thuê cho các cửa hàng y phục. Rời khỏi ghế nhà trường, không còn bận rộn với bài vở, tôi thật không biết phải làm gì với khoảng thời gian rảnh rỗi đã trở nên lê thê thừa thãi. Lang thang bụi đời thì không có can đảm. Ăn chơi đàn đúm cũng chẳng có điều kiện. Ru rú trong nhà để vừa bị sai vặt, vừa phải chạm mặt với lão cha dượng gai mắt kia thì chả dại! Xem ra chỉ còn một nơi nương náu an toàn miễn phí duy nhất dành cho tôi, ấy là… nhà thờ!

Thú thật là ban đầu, tôi cần mẫn lai vãng các thánh đường, chẳng qua là mong tìm một liều thuốc ngủ, hòng lãng quên một thực tại đen tối đoạn trường. Nhưng rồi ngày tháng qua đi, tôi càng lúc càng thấy thân thiện gần gũi với Chúa hơn. Ngài mỉm cười với tôi và tôi ngây ngô đáp trả. Tôi bắt đầu ngỡ ngàng lắng nghe từng Lời của Ngài. Và đây, văng vẳng đến tai tôi, lời phán truyền ngày nào của Chúa Giêsu với uy quyền tối thượng và đòi hỏi tuyệt đối:

"Các con nghe lời dạy rằng: "Mắt đền mắt, răng đền răng. Nhưng Ta bảo các con: "Đừng chống cự kẻ ác. Nếu ai vả má bên phải, hãy đưa luôn má bên kia cho họ. Nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngắn, hãy để họ lấy luôn áo dài. Nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với họ hai dặm. Ai xin hãy cho; ai muốn mượn gì, đừng từ chối…
(Mt 5:38-42)

Nghe đến đây, tôi lập tức có đủ thông minh để đoán biết Chúa đang muốn gì ở nơi tôi. Ngài đang khẩn khoản mời gọi tôi hãy mở lòng bao dung mà tha thứ cho lão cha dượng Trời đánh, Thánh… đỡ kia! Lão ta quả là cái thứ Trời đánh, Thánh… đỡ thật mà, chứ Trời đã đánh cho nhừ đòn rồi mà Thánh còn đâm cho thêm vài nhát nữa thì kể như bế mạc cuộc đời, làm gì còn có thể nhởn nhơ tồn tại cho đến ngày hôm nay!

Dĩ nhiên là đời nào tôi chịu chấp thuận một yêu sách vô lý và bất công như thế. Kết quả là một cuộc tâm chiến dữ dội đã bùng nổ. Tôi giãy nãy, vùng vẫy, hòng thoát khỏi vòng tay cứng cỏi của Chúa nhưng Ngài nhất định không chịu buông tha. Ngài kiên trì rỉ rả vào tai tôi bài giảng chướng tai, gai óc ấy mỗi ngày nhưng tôi vẫn bướng bỉnh lắc đầu, bất phục. Chúa muốn gì, đó là chuyện của Ngài. Phần tôi, thà bị ném vào lửa đời đời” (Mt 18:8), chứ dứt khoát muôn đời không dung thứ lão cha dượng đáng nguyền rủa đến vạn lần ấy!

Cứ thế, tôi ngoan cố bám víu vào lối lý sự ngang ngạnh của mình, nhất là khi nhớ lại lần cuối cùng, lão cha dượng dám trơ trẽn khỏa thân trước mặt tôi. Lúc ấy, tôi điên tiết vơ bừa cây kéo gần đấy, chĩa chiếc mũi nhọn hoắc về phía lão, gầm gừ đe dọa:

- Ông mà tiến thêm một bước nữa thì tôi sẽ ném cây kéo này vào mặt ông và hét ầm lên cho cả làng cả xóm nghe!

Trước phản ứng dữ dội của tôi, lão ta đành lùi bước và không còn dám hó hé giở thêm trò đê tiện bỉ ổi nào nữa. Mặc dầu vậy, tôi vẫn căm tức khắc ghi lời thề sẽ ghim sâu mối hận này vào tận đáy lòng, mãi mãi không quên!

Thật lòng mà nói, tôi không thể hiểu được vì sao một Thiên Chúa được mệnh danh là Cha Từ Bi Nhân Hậu lại nhẫn tâm ném tôi vào giữa chốn bi kịch đoạn trường của một gia đình ly tán rồi lạnh lùng ngoảnh bước, phó mặc tôi bị vùi vập, nghiền tán thảm thương dưới gánh nặng tàn khốc của bấy nhiêu gian truân, nhọc nhằn ở trên đời. Để rồi một hôm, Ngài đột ngột xuất hiện trước mắt tôi, một mực nài ép tôi phải bằng lòng giũ bỏ mọi thứ hờn oán thâm thù:

"Các con có nghe lời dạy: "Hãy thương người láng giềng và ghét kẻ thù địch. Nhưng Ta bảo các con: "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con,…
(Mt 5:43-44)

Phần tôi, đương nhiên tôi không tài nào thuận ý buông xuôi một cách dễ dàng bởi những thương tổn tâm linh vẫn tiếp tục thối rữa đến mức hoại tử dưới gót chân giẫm đạp vô cảm vô tình của mẹ và cha dượng. Tôi vùng vằng dỗi hờn, làu bàu than phiền trách móc Chúa, đoạn nhấp nhổm tháo chạy hầu thoát khỏi tầm ảnh hưởng đáng sợ của Ngài. Thế nhưng…

Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Chỉ có Thầy mới có Lời Hằng Sống!
(Gn 6:68)

Tôi đã bị đẩy vào ngõ cụt cùng đường rồi, chỉ có Chúa mới cứu vớt được tôi thôi. Không còn sự chọn lựa nào khác, tôi đành ấm ức vâng phục Chúa. Từ đó trở đi, tôi bắt đầu cố gắng tập tành hy sinh, nhẫn nại, vị tha. Gọi là “tập tành”, nghe cho oách một tý, chứ thật ra, tôi đang bị Chúa dí súng vào đầu đấy, không vâng theo ý Ngài, không xong đâu. Bởi thế, tôi vừa cặm cụi với công việc thường nhật, vừa hậm hực ném cho lão cha dượng nhàn rỗi khó ưa kia ánh mắt hình… viên đạn.

Với thời gian và ân huệ của Thiên Chúa, niềm thù hận một thời hừng hực trong tôi cũng dần dà nguội mát. Tôi bớt lời châm chích xỏ xiên với cha dượng, ân cần với mẹ và quan tâm các em hơn. Vài năm sau, tôi xuất ngoại và định cư ở nước ngoài. Khoảng cách địa lý xa xôi đã giúp tôi hoàn toàn thoát ly khỏi những va chạm cọ xát khó chịu hằng ngày, nhờ vậy, nỗi căm hờn đắng chát  thưở xưa cũng từ từ lắng dịu xuống. Tuy vậy, tôi vẫn chưa thật sự có thể thốt ra lời tha thứ tận thâm sâu của đáy lòng. Trong những cánh thư gửi về quê nhà, tôi không bao giờ nhắc đến tên cha dượng. Thôi thì cứ xem như “nước sông không chạm nước giếng” vậy. Mẹ tôi có lẽ đã đoán biết tâm ý của tôi nên cũng lờ đi, không đề cập đến. Chẳng bao lâu sau, tôi lập gia đình, có một mái ấm hạnh phúc với hai thiên thần bé nhỏ.

Có sinh con, mới biết lòng cha mẹ”. Câu châm ngôn bất hủ của tổ tiên để lại quả không sai tý nào. Kể từ khi tôi cuốn mình vào vòng xoáy quay cuồng của vai trò và trách nhiệm làm mẹ, tôi mới bắt đầu cảm nghiệm mối đồng cảm sâu xa với người mẹ suốt đời duyên phận bẽ bàng. Tôi may mắn kề cận người bạn đời luôn sẵn sàng giang tay nâng đỡ mình, vậy mà lắm lúc tôi còn cảm thấy kiệt quệ khi phải đối đầu với đủ thứ căng thẳng và áp lực nặng nề của nhịp sống hiện đại. Huống chi xưa kia, mẹ tôi phải một thân một mình nuôi nấng con thơ trong đìu hiu cô quạnh, phải đơn thân gánh vác bao nhiêu vất vả nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh ngặt nghèo. Giá như mẹ nhẫn tâm hơn một tý, phũ phàng hơn một tý, tống quách tôi vào cô nhi viện cho rảnh mắt, thì làm gì còn có tôi của ngày hôm nay? Chỉ đến giờ phút này, nỗi hờn trách âm thầm từ bao năm nay với người mẹ khô khan cằn cỗi mới phai nhạt dần vì tôi đã hiểu ra rằng, mẹ tôi thật sự đáng thương hơn là đáng trách.

Thời gian gần đây, bỗng nhiên một loạt các biến cố xui xẻo, bất như ý đã bất ngờ liên tiếp xảy ra khiến tôi tối tăm cả mặt mũi. Trong khuôn khổ giới hạn của bài chia sẻ này, tôi chỉ xin nêu lên sự kiện tiêu biểu nhất. Ấy là tôi bỗng phát bệnh trầm kha, vô phương chữa trị. Giữa lúc tưởng chừng hoàn toàn vô vọng, tôi chợt nghĩ đến… phép lạ bởi vì giờ đây, chỉ có Chúa mới có đủ quyền năng để cứu chữa tôi. Thú thật là từ nào giờ, tôi không mấy quan tâm đến phép lạ. Không phải tôi không tin, nhưng tôi đã từng thấy rất nhiều người xung quanh mình, tối ngày cầu xin, xin đủ thứ đủ điều, từ tình duyên gia đạo cho đến công danh sự nghiệp, không được như ý thì bỏ Chúa, bỏ đạo. Vì vậy nên tôi luôn tự nhủ lòng, đừng xin xỏ gì hết cho… chắc ăn. Ngài cho gì, lấy nấy, Ngài lấy lại, cũng đành chịu thôi. Tuy thế, lần này tôi không thể ngoan ngoãn trông chờ vào sự an bài trớ trêu của định mệnh nữa. Các con thơ dại của tôi đang rất cần vòng tay ấp ủ chở che của mẹ. Tôi không thể bỏ rơi các con bơ vơ ở trên đời…

Mặt khác, tôi cũng ý thức được, Thiên Chúa là Đấng Tạo Thành, Ngài có tự do của riêng Ngài. Là một thụ tạo bé nhỏ, tôi chỉ có thể cầu xin, chứ không thể “khủng bố” Ngài. Vì vậy, tôi khẩn khoản thêm với Chúa rằng, nếu vì một lý do gì đó, Ngài không muốn chữa lành cho tôi, xin Ngài hãy chăm sóc các con thay cho tôi… Cuối cùng, Thiên Chúa đã vui lòng chấp thuận và căn bệnh đang tiến triển trầm trọng của tôi đã dần dần thối lui.

Một khi ngã xuống giường bệnh, người ta sẽ tự nhiên có thừa thời gian để suy gẫm về những điều mà thông thường người ta không rảnh rỗi để ngẫm nghĩ. Và một khi phải đối mặt với tử thần, người ta sẽ bỗng dưng có đủ khả năng nhận thức những điều mà thông thường người ta không tài nào lãnh hội được. Không ngoại lệ, tôi bắt đầu ý thức rằng, đã đến lúc tôi cần tập tành giũ bỏ hết mọi bám víu thế tục và điều tôi phải buông xuống trước tiên chính là các mối ân oán tình thù. Tôi bất chợt nhớ đến cha dượng ở quê nhà. Tuy nhiên, mùi vị đắng cay chua chát của năm xưa đã không còn dâng trào gay gắt nơi đầu lưỡi nữa. Trước kia, tôi căm ghét cha dượng bởi cho rằng ông đã tước đoạt quá nhiều thứ từ tay tôi, từ tình thương của mẹ cho đến tài sản trong nhà, chưa kể ông còn mưu toan cưỡng bức bản thân tôi. Nhưng rồi thời gian dần trôi, Thiên Chúa đầy lòng thương xót đã bù đắp đầy đủ bấy nhiêu mất mát, thiệt thòi của tôi, thậm chí còn dư đầy chan chứa, vượt quá mọi mong đợi giới hạn của tôi…

Quả thế, tôi tuy thiếu vắng tình mẹ nhưng đã được đền bù rộng rãi bằng một mái ấm hạnh phúc của riêng mình và lòng từ ái hải hà của Người Cha Thiên Quốc. Tôi tuy thiếu thốn vật chất nhưng đã được bồi thường hào phóng bằng cuộc sống tài chính ổn định trong hiện tại và một kho báu vô tận không bao giờ mục nát ở trời cao. Giờ phút này, tôi không tìm được lý do chính đáng nào để tiếp tục nung nấu oán hờn giận ghét nữa. Những vết thương lòng thối rữa và buốt nhói từ bao năm qua đã được Thiên Chúa băng bó, chữa lành và tuyệt nhiên không để lại vết sẹo gồ ghề nào.

Dầu vậy, con tạo nghiệt ngã xoay vần thường thích trêu ghẹo những tấm chân tình. Tôi đã phải vượt qua biết bao nhiêu trở ngại tâm linh gập ghềnh mới có thể thật lòng tha thứ và nhìn nhận cha dượng như ông xứng đáng được, với tư cách đồng là con cái của Cha Trên Trời. Vậy mà mẹ tôi bỗng nhiên thông báo một tin hoàn toàn bất ngờ, nằm ngoài tất cả dự đoán của tôi.  Ấy là, sau bao nhiêu năm thống khổ trong cuộc hôn nhân tù ngục, mẹ tôi quyết tâm tự giải thoát cho mình và ngầm nuôi ý định xây dựng lại hạnh phúc với một người mà xét về bề ngoài, trổi vượt hơn hẳn cha dượng tôi về mọi mặt. Về phía họ hàng thì miễn bàn rồi, không những bên tôi, mà cả dòng họ bên ông, ai nấy cũng đều đồng lòng ủng hộ mẹ tôi thoát ly khỏi gã chồng bê bối để vun đắp một mái ấm mới. Riêng tôi ngỡ ngàng xuôi theo ý mẹ mà tâm hồn không ngớt nổi sóng ba đào.

Mâu thuẫn chính là ở chỗ đấy. Tôi từng điên cuồng tìm đủ mưu kế hòng chia rẽ mẹ và cha dượng. Thế mà hôm nay, khi tâm nguyện xâu xé một thời đã được đạt thành, tôi chẳng thấy thích thú chút nào. Dẫu thế nào, mẹ và cha dượng cũng đã trang trọng trao nhau lời thề hứa trăm năm trước Bàn Thánh Chúa, và…

Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân chia.
(Mt 19:6)

Đó là một chân lý bất di bất dịch, không ai có thẩm quyền thay đổi được. Thiên Chúa là Đấng thủy chung như nhất, Ngài không hề bỏ rơi loài người cho dẫu loài người phản trắc đã bao phen ngoảnh mặt quay lưng lại với Ngài. Do đó, Ngài cũng đòi hỏi các con cái của Ngài một hôn nhân trường tồn, không phân rẽ. Như thế, việc ly hôn này chắc chắn không phải là điều làm đẹp lòng Chúa!

Tôi bất giác suy tưởng về ơn chữa lành mà Chúa vừa rộng lòng ban cho. Nhờ vậy, tôi bỗng chốc thấu hiểu, đâu là lầm lạc lớn nhất của đời mình. Tôi từng quan niệm rất ấu trĩ rằng, miễn là mẹ tôi chịu rời xa đức lang quân phá gia chi tử ấy thì bà sẽ được yên ổn an lành. Vì thế, tôi đã không từ nan bất cứ kế sách hay ho nào hòng vĩnh viễn tách rời và loại bỏ cha dượng ra khỏi cuộc đời của mẹ. Vậy mà, hoàn toàn trái ngược với những lập luận trần tục hẹp hòi của tôi, Thiên Chúa lại là:

… Đấng cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.
(Mt 5:45)

Một Đấng Chí Thánh Toàn Năng dĩ nhiên không bao giờ dung túng cho sự dữ hay phó mặc cho sự ác hoành hành, Dầu vậy, Ngài luôn có lòng trắc ẩn sâu thẳm và khoan dung cao vời đối với những kẻ lầm đường lạc lối. Thử nghĩ mà xem, giả như tồn tại một xí nghiệp sản xuất mà đa số thành phẩm đều không đạt yêu cầu chất lượng, cần phải loại bỏ, có phải xí nghiệp ấy sẽ đối đầu với nguy cơ phá sản trong một tương lai rất gần? Tương tự, nếu hễ ai lỡ bước sa chân là Thiên Chúa thẳng tay tống cổ xuống Hỏa Ngục thì kể như Ngài đại bại rồi vì toàn bộ công trình sáng tạo ban đầu của Ngài chắc chắn sẽ trôi sông đổ bể, bởi lẽ, cứ theo phép công thẳng mà xét, thì:

Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không;…
… mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa
(Rm 3:10; 3:23)

Do đó, Thiên Chúa đã quyết ý không biểu dương quyền năng uy dũng của Ngài bằng cách hủy diệt kẻ dữ, mà bằng lòng nhẫn nại vô biên hầu dìu dắt họ trở về với nẻo chính đường ngay. Ngài cũng nhất tâm không biểu lộ sự cực thánh vinh hiển của Ngài bằng cách loại bỏ kẻ ác, mà bằng lòng kiên trì vô bờ hầu hoán đổi họ trở nên lành thánh trước Nhan Ngài. Đơn giản là vì:

Cha của các con, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất…
… trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.
(Mt 18:14; Lc 15:7)

Đây mới chính là sự khôn ngoan tuyệt đỉnh của một Thiên Chúa Chí Thánh Toàn Năng mà bộ não phàm tục thiển cận của tôi đã không sao mường tượng ra được. Nghĩa là, chỉ cần cha dượng tôi chịu thay đổi, trở nên ngay lành, cần cù, chu đáo, lúc bấy giờ, không chỉ riêng mẹ tôi, mà cả hai ông bà sẽ cùng nhau vui hưởng hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Ngoài ra, cho dẫu tôi thành công chia rẽ hai người và mẹ tôi may mắn tìm được người bạn đời khác tử tế hơn, giữa lúc cha dượng tôi vẫn tiếp tục trầm luân trong u mê tăm tối, thì đó không phải là giải pháp khắc phục triệt để, phù hợp với kế hoạch yêu thương nguyên thủy của Cha Trên Trời.

Cải hóa một con người, đó là điều rất khó thực hiện, nếu không muốn nói là bất khả thi đối với sức lực hạn hẹp của người phàm. Thật vậy, dưới lăng kính nhân loại, cha dượng tôi kể như thuộc hạng vất đi, hết thuốc chữa rồi, nhưng ngược hẳn lại,

… đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được."
(Mt 19:26)

Quả thế, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ này từ không thành có, đã khiến kẻ chết sống lại,  chữa lành đủ loại bệnh tật hiểm nghèo và biến đổi biết bao kẻ tà tâm ác nghiệt thành bậc hiển thánh. Tuyệt nhiên không có gì là không thể thực thi được đối với Ngài. Ơn chữa lành dành cho căn bệnh nan y của tôi cùng các dấu lạ kỳ diệu khác mà Thiên Chúa đã lần lượt rộng lòng thi thố trên cuộc đời khốn cùng, không lối thoát của tôi đã chứng tỏ minh bạch điều đó.

Hơn nữa, Thiên Chúa còn soi lòng lòng mở trí cho tôi giác ngộ thêm rằng:

Đừng đoán xét thì các con khỏi bị đoán xét. Đừng lên án thì các con khỏi bị lên án…
... Sao con thấy cái dằm trong mắt anh em con mà không nhìn biết cây xà trong mắt mình?...
(Lc 6:37; 6:41)

Từ trước đến nay, tôi chỉ viện vào các hành vi bề ngoài của cha dượng rồi vội vàng lên án và gay gắt phủ nhận sự hiện hữu của ông ở trên đời. Tuy nhiên, tôi làm sao có khả năng dò thấu những tâm tư trăn trở tận sâu đáy lòng của ông? Biết đâu ông vốn có tâm hồn ngay lành hướng thiện, nhưng đang phải khổ sở vật vã với những yếu đuối hư hèn của xác thịt? Riêng bản thân tôi, chỉ vì nuôi chí phục thù mà ấp ủ bao toan tính độc địa. Tôi chỉ chưa có cơ hội thực hiện những ý đồ xấu xa ấy thôi.

Đến đây, tôi bất giác nhận ra, tôi mới chính là đứa con hoang đàng, đã đem gia sản yêu thương của Cha Trên Trời mà tiêu tán, phung phá nơi chốn bùn lầy nhơ nhớp của thù ghét oán hờn (Lc 15:11-13). Tôi đã lãng phí hơi thở sự sống quý giá của Thiên Chúa Ba Ngôi (St 2:7), vào những cảm giác bực tức, giận ghét vô bổ, thậm chí những mưu toan trả đũa vô ích, không đi đến đâu. Để rồi rốt cuộc, tôi chẳng thu hoạch được gì ngoài một cục diện đổ vỡ hoang tàn trong hiện tại. Xưa kia, tôi từng lôi đình thịnh nộ, không sao chấp nhận sự kiện một kẻ hoàn toàn vô can như tôi bỗng dưng phải gò lưng gánh chịu bao nỗi oan khiên ngang trái. Nhưng hôm nay, Thiên Chúa đã vén mở cặp mắt tâm linh của tôi để nhìn thấu, kẻ tội phạm trước tiên, không phải là ai khác ngoài… chính bản thân tôi! Quả là một nghich lý bất ngờ. Từ nào giờ, tôi những tưởng mình là nạn nhân vô tội, ngờ đâu bỗng chốc lại biến thành phạm nhân tội đồ trước ngai tòa của Đấng Tối Cao!

Lúc này đây, tôi vô cùng ray rứt hối tiếc về hậu quả tồi tệ của sự cứng lòng mù tối năm xưa. Tôi đã ngông nghênh ngoảnh bước quay lưng với lời mời gọi thiết tha của Thiên Chúa, đã ương ngạnh khước từ cộng tác vào chương trình cứu chuộc tuyệt hảo của Ngài. Giá như ngày ấy, tôi khiêm nhượng vâng phục Chúa, chân thành tha thứ và thành khẩn nguyện cầu cho cha dượng như Ngài hằng đòi hỏi mong chờ, biết đâu hôm nay, ông đã hồi tâm và một lòng một dạ mưu cầu hạnh phúc cho gia đình? Tôi bắt đầu nghiệm ra rằng, đối với nỗi bất hạnh cả đời của mẹ, tôi cũng góp phần trách nhiệm không nhỏ trong đó!

Thánh Monica thưở xưa đã phải vất vả ròng rã suốt 20 năm dài đằng đẵng, kiên tâm cầu nguyện trong nước mắt và thương đau, hầu hướng lòng ông chồng và ông con lạc lối chịu hồi đầu trở lại. Riêng với tôi bây giờ mà nói, tất cả xem ra đã quá muộn màng rồi. Tuy nhiên, đối với Thiên Chúa, không có cuộc trở về nào là muộn màng cả bởi Ngài quả quyết sẽ trả công bội hậu cho tất cả mọi người, kể cả những ai đến nhận việc vào giờ sau hết tại vườn nho của Ngài (Mt 20:1-16)! Tôi tự hứa với lòng mình và với Chúa, tôi sẽ dành quãng đời còn lại của mình để chuộc lại lỗi lầm bằng cách chuyên cần cầu nguyện cho mẹ và cha dượng. Hy vọng một ngày nào đó trong tương lai, Thiên Chúa giàu lòng xót thương sẽ an bài một đáp án mỹ mãn cho cuộc hôn nhân tuy oan trái nhưng đã được long trọng kết hợp trước Nhan Thánh Ngài. Tôi cũng cầu xin Chúa ban cho tôi ơn bền đỗ đến cùng vì tôi biết rõ, nếu thiếu bàn tay trợ giúp của Ngài, một phàm nhân hèn yếu như tôi sẽ rất dễ ngã lòng, buông xuôi…

Đọc những dòng tâm tình của tôi, có lẽ nhiều người sẽ cho rằng tôi không điên thì cũng khùng. Mẹ tôi đã một đời khổ lụy với gã chồng tệ bạc, không ra gì, sao không nhân cơ hội hiếm hoi này mà cổ võ bà vun bồi hạnh phúc thật sự? Đây quả là chọn lựa khôn ngoan theo lập luận thường tình của thế gian. Nhưng trái lại, Thiên Chúa luôn tạo cơ hội hối cải trở về và kiên nhẫn đợi chờ những kẻ lỡ lầm. Ngài đã thể hiện sự khôn ngoan trọn hảo ấy nơi Thập Giá và Phục Sinh, bởi duy nhất chỉ có lòng yêu thương, nhẫn nhịn và tha thứ mới có đủ năng lực chiến thắng sự dữ và cảm hóa các kẻ tội đồ:

… thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận biết Thiên Chúa ở những nơi Thiên Chúa biểu lộ sự khôn ngoan của Người. Cho nên Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin…
… cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người…
 (1C 1:21; 1:25)

Tôi đã bỏ lỡ nửa cuộc đời quý báu Chúa ban hòng rong ruổi theo sự khôn ngoan phù phiếm hão huyền của thế tục. Hôm nay, nhờ vào lòng nhân từ khôn dò của Cha Trên Trời, tôi đã được vực dậy từ cõi chết, không phải để tiếp tục lạc lối vào nẻo đường xa rời Ngài nữa…

Giờ phút này, tôi không mong mỏi gì hơn là được cùng Đức Trinh Nữ Maria thốt lên lời “xin vâng” với mọi lệnh truyền khôn ngoan siêu vời của Thiên Chúa Ba Ngôi và cùng Thánh Phanxico Khó Khăn cất cao tiếng hát bài ca Hòa Bình:

Lạy Chúa từ nhân,
Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa
Ðể con đem yêu thương vào nơi oán thù,
Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục
Ðem an hoà vào nơi tranh chấp,
Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm…

 05-2016