Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Đôi dòng cảm nghiệm về giáo xứ

Đôi dòng cảm nghiệm về giáo xứ







Tôi đến cư ngụ tại thủ phủ của xứ Lá Phong sau khi tốt nghiệp Đại học và được chính phủ Liên bang tuyển dụng. Được biết nơi đây có cộng đoàn Công Giáo Việt Nam, tôi đã tìm đến sinh hoạt và tham dự Thánh Lễ. Cho đến nay, giáo xứ đã được thành lập 15 năm, lần lượt dưới sự linh hướng và điều hành của ba linh mục.

Linh mục quản nhiệm đầu tiên là cha Th. Cảm nhận ban đầu của tôi là… sự hụt hẫng pha lẫn với chút… thất vọng, bởi vì ngài quá ư… bình thường, ít ra là so với các linh mục khác mà tôi từng gặp gỡ. Thế rồi năm tháng trôi qua, tôi mới dần dần khám phá, dẫu cha Th không có vẻ bề ngoài lấp lánh hào quang, lại tiềm ẩn một nội tâm ý nhị sâu sắc và một ưu điểm hiếm có là tính nhẫn nhịn và lòng khiêm nhường. Đó cũng là tính cách cần có nơi người lãnh đạo cộng đoàn. Đơn giản là vì Thiên Chúa tuy toàn năng nhưng tuyệt đối tôn trọng sự tự do của con người. Do đó, người ta có chịu tự hủy mình ra không, nhường chỗ cho Chúa thì Ngài mới giang tay thi thố trọn vẹn quyền năng tối thượng của Ngài.

Vậy là tôi đã đi từ ngỡ ngàng này cho đến ngỡ ngàng khác, chứng kiến sự lớn mạnh không ngừng cùa cộng đoàn. Lúc ấy, tôi mới bắt đầu ngạc nhiên khâm phục sự « tầm thường » của cha xứ. Mặc dầu ngài không có biệt tài giảng thuyết, các Thánh lễ vẫn thu hút khá đông tín hữu tham dự, thậm chí các ngày lễ trọng, giáo xứ phải xếp thêm ghế vì thánh đường không đủ chỗ ngồi. Đặc biệt quan tâm đến giới trẻ, ngài đã thiết lập ban thanh niên và củng cố phong trào Thiếu nhi Thánh Thể, khuyến khích các em tham gia vào phụng vụ để trau dồi niềm tin và duy trì truyền thống dân tộc. Ngoài ra, ngài còn hình thành câu lạc bộ bóng bàn giúp đám trẻ nâng cao thể lực và kết tình thân hữu, tổ chức các khóa học thăng tiến hôn nhân và các buổi tĩnh tâm với đề tài lôi cuốn do các tu sĩ khác nhau đảm nhiệm. Chưa kể là ngài đã thực hiện khá nhiều việc hy sinh tận tụy thầm lặng, rất ít ai biết đến. Chẳng hạn, ngài đích thân sửa chữa nhà thờ, chỉ với sự phụ giúp của vài người và tự nguyện giảm bớt lương bổng để đền bù vào ngân sách thiếu hụt của giáo xứ.

Suốt 12 năm cai quản giáo xứ, cha Th không ồn ào phô trương, cũng không màu mè khoe mẽ. Trái lại, ngài âm thầm gieo rắc và vun xới những hạt giống quý giá của tinh thần phục vụ khiêm hạ, cho đến hôm nay, vẫn còn lưu lại và nảy nở tốt tươi trong tôi và nhiều người. Xin kính gửi đến cha lời tri ân chân thành. Hiện nay, Thiên Chúa đã giao phó cho cha một sứ vụ mới mẻ nhưng 12 năm cha lưu lại nơi đây thật không uổng phí chút nào.

Linh mục kế nhiệm là cha Q. Thú thật là ngài đã tạo nơi tôi cái nhìn phản cảm ngay lần tiếp xúc đầu tiên. Cảm giác khó chịu ấy cứ lớn dần với cung cách phát ngôn và phán quyết mà tôi cho là không thích hợp. Cho đến một hôm, tình cờ nghe biết về những vấn đề nan giải trong giáo xứ mà ngài đang phải đương đầu, tôi mới nghiệm ra sự vô lý của mình. Xét cho cùng, cha Q không có thiếu sót gì to tát ngoài việc thiếu kỹ năng giao tiếp. Khiếm khuyết ấy tuy có ảnh hưởng đến công việc mục vụ nhưng vẫn không phải là tội danh nặng nề trước Nhan Thiên Chúa. Lẽ ra, tôi phải nhìn nhận và cảm kích những đóng góp tích cực khác của ngài cho giáo xứ. Đằng này, tôi lại nung nấu một thứ ác cảm vô lối, chẳng đem lại ơn ích gì cho ai, mà chỉ khiến tâm hồn tôi bất an ray rứt.

Từ đấy, tôi mới tự vấn, vì sao tôi không cầu nguyện cho ngài? « Không có gì là không thể được đối với Thiên Chúa » (Lc 1:37), Đấng đã từng hoán cải biết bao kẻ tội đồ hồi đầu trở lại, huống chi là việc uốn nắn những khuyết điểm nhỏ bé. Rất tiếc là tôi đã thiếu niềm tin, vì vậy, tôi đang cố gắng đền bù lầm lỗi của mình bằng cách nhớ đến cha Q trong lời nguyện, xin Chúa gìn giữ và trợ giúp ngài vượt qua mọi khó khăn để luôn luôn vững vàng trong ơn gọi.

Sau cùng, Đức Tổng Giám Mục đành phải qua đến tận xứ Cờ Hoa, thỉnh một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế về cho giáo xứ. Thoạt nhìn, cha T không để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc gì. Nhưng chỉ vài tháng sau, tôi mới bàng hoàng phát hiện, ngài quả là một… đại cao thủ! Thành thật mà nói, ngài chẳng vận dụng chiêu thức gì cao siêu, ngoài việc phân phát tràng hạt với lời dặn dò ân cần là hãy siêng năng lần chuỗi Mân Côi, và cho căng một biểu ngữ thật lớn giữa thánh đường : « Đức tin không có việc làm là đức tin chết » (Gc 2:26)! Đấy, một bí kiếp đơn giản như « đang giởn » vậy, mà công lực dồi dào đến nỗi ngài chỉ mới khe khẽ phất tay, xuất chiêu nhẹ nhàng tựa tơ hồng mà quần hùng lớp lớp đổ rạp.

Trước đây, các cha xứ mặc sức kêu gào hò hét, rốt cuộc may ra có được vài người lục tục hưởng ứng. Nhà thờ xập xệ, không ai sửa, nhà bếp bầy bừa, không ai dọn, nhà xí hư hỏng, không ai ngó. Bây giờ khác hẳn, khắp khuôn viên tấp nập kẻ ra người vào, xông xáo làm việc này, hăng say làm việc kia. Những bộ mặt một thời lạnh lùng nhăn nhó đã rạng rỡ nụ cười thân ái hiền hòa. Trong vòng một năm nhậm chức, cha T đã quy tụ một nhóm chuyên ngành xây dựng chung sức đại trùng tu thánh đường. Hoạt động của các hội đoàn, trong đó có Thiếu Nhi Thánh Thể, cũng trở nên sôi nổi, nhộn nhịp và hiệu quả hẳn lên. Đặc biệt là các chương trình đêm được tổ chức chu đáo với những bộ film đầy ý nghĩa kèm theo bữa ăn ấm cúng, vừa có tác dụng củng cố đức tin, vừa kết chặt tình thân giữa các thành viên của giáo xứ.

Thật ra, cha T đâu có làm điều gì mới lạ. Ngài chỉ hướng dẫn cộng đoàn dựa theo linh đạo truyền thống của Hội Thánh, một linh đạo đã được Mẹ Têrêsa thành Calcutta đúc kết và nêu gương một cách tuyệt vời:

Kết quả của thinh lặngcầu nguyện
Kết quả của cầu nguyệnđức tin
Kết quả của đức tintình yêu
Kết quả của tình yêuphục vụ
Kết quả của phục vụbình an

Hoặc diễn giải một cách nôm na theo nguyên tắc toán học là :

cầu nguyện + phục vụ = không còn thời gian để « nhàn cư vi bất thiện »

Cha T đã thành công cân bằng phương trình nan giải ấy để rồi dẫn đến hệ luận tất yếu là bình an, bình an cho cá nhân và bình an cho cộng đoàn! Tạ ơn Chúa Thánh Thần đã soi đường dẫn lối cha xứ của chúng con!

Tuy vậy, nội lực thâm hậu của cha T vẫn chưa đạt đến mức thượng thừa để được miễn nhiễm khỏi những ánh mắt dị nghị xét nét đâu nhé. Cụ thể là có lần tôi thăm dò con gái :

-       Con có thích cha T không?
-       Thưa không! – Bé thản nhiên đáp ngay, không cần nghĩ ngợi.
-       Sao thế? – Tôi ngẩn người, hỏi vặn.
-       Uhm… Uhm… – Bé ngập ngừng, lim dim mắt suy gẫm một lúc rồi mới vòng vo – Con thích cha Th hơn tại cha Th « hiền » hơn, « dễ thương » hơn…

Làm cha xứ thời hiện đại khổ thế đấy, « ở sao cho vừa lòng người, ở rộng người cười, ở hẹp người chê »! Nhưng tôi chợt nhớ, năm xưa, Đức Giêsu có đến 12 môn đồ, mà Ngài lại chỉ định ngay Thánh Phêrô là người đã từng chối Ngài ba lần để đứng đầu Hội Thánh, chứ không chọn Thánh Gioan là môn đệ vừa được ưu ái nhất, vừa chẳng chối Chúa bao giờ!

Về phần đời sống cộng đoàn, dưới cái nhìn tổng quát, các hoạt động thờ phượng và sinh hoạt đều rất sốt sắng trang trọng. Dầu vậy, bề trong, không phải lúc nào cũng cơm lành, canh ngọt, điển hình là một loạt các xáo trộn bất ổn bùng phát không bao lâu trong giáo xứ. Dễ hiểu thôi! Hai vị Tông đồ lừng danh nhất là Thánh Phêrô và Thánh Phaolô còn choảng nhau nữa là : « Nhưng khi ông Kê-pha đến An-ti-ô-khi-a, tôi đã cự lại ông ngay trước mặt, vì ông đã làm điều đáng trách. » (Ga 2 :11). Các giáo đoàn tiên khởi cũng không tránh khỏi nồi da xáo thịt bởi chia rẽ và kiện tụng : « Dù sao, nguyên việc anh em kiện cáo nhau đã là một thất bại cho anh em rồi. Tại sao anh em chẳng thà chịu bất công? Tại sao anh em chẳng thà chịu thiệt thòi? » (1C 6:7)

Chính trong bối cảnh này, tôi xin chia sẻ vài cảm nghĩ về vấn đề hiệp nhất cộng đoàn. Trước hết, theo nhận xét thiển cận của tôi, phần lớn các lục đục nội bộ xảy ra đều xuất phát từ một tâm lý rất thông thường và phổ quát. Ấy là mỗi khi có sự va chạm, người ta sẽ trước hết nghĩ ngay đến sai lầm của người khác, để rồi cay đắng phẫn nộ, từ đó dẫn đến một hệ lụy không tránh khỏi mà thuật ngữ vi tính học đã gán cho danh từ « deadlock », hầu diễn tả một tình trạng hoàn toàn đình trệ, bế tắc, không lối thoát. Quả vậy, nếu ai cũng khăng khăng đổ lỗi cho kẻ khác, mà ngoan cố không chịu thừa nhận lầm lạc của mình, sự xung đột sẽ cứ thế nổ tung theo chiều xoáy ốc cho đến khi mọi mối tương quan đều vỡ tan. Hậu quả sau cùng thật khôn lường, nhẹ nhất là không ai ngó mặt ai và nặng nhất là đấu đá cho đến lúc kẻ mất người còn!

Cá nhân tôi dĩ nhiên cũng không thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn tự nhiên của hỷ nộ ái ố ấy. Nhưng may mắn thay, Thiên Chúa đã run rủi cho tôi tìm được lối thoát diệu kỳ. Số là một buổi sáng Chúa Nhật nọ, bé gái nhà tôi bỗng lăn đùng ra khóc lóc, nhất định không chịu đi sinh hoạt Thiếu Nhi Thánh Thể. Tôi ngạc nhiên gặng hỏi lý do. Bé mếu máo kể lể :

-       Bạn ABC cứ đi theo chọc con hoài!

Quả là một bài toán hóc búa! Vừa vội, vừa bí lối, tôi đành nói bừa để tạm dỗ dành con:

-       Con bực tức thì giải quyết được gì? Con càng giận, bạn càng thích, càng trêu con thêm. Vả lại, bạn trêu con, đúng là không tốt, nhưng cũng không có nghĩa là bạn sai hoàn toàn. Biết đâu con đã làm điều gì đó chướng mắt trước khiến bạn thấy gai trong lòng mà đâm ra trêu con? Sao con không cầu xin Chúa? Chỉ có Chúa mới biết rõ, ai đúng, ai sai, ai cần sửa đổi, và sửa đổi ở chỗ nào. Con không có khả năng thay đổi bạn, con cũng không biết con sai chỗ nào để tự thay đổi, nhưng Chúa biết. Nếu con cầu xin, chắc chắn Ngài sẽ giúp con!

Không hiểu sao, tôi dám bạo mồm quả quyết một tràng như đinh đóng cột thế, chứ thú thật là trong thâm tâm, tôi không cầm chắc một Thiên Chúa Siêu Vời sẽ hạ mình can thiệp vào trò cãi cọ vu vơ kia. Ngờ đâu, vài tuần sau, tôi hỏi lại thì bé cười toe toét đáp:

-       Bạn ABC hết chọc con rồi!

Một thời gian sau, bé lại giãy đành đạch, một hai từ khước tham gia tập múa trong nhà thờ với lý do :

-       Trong đội múa có bạn XYZ đã múa sai bét mà cứ tày lanh chê bai người khác. Đã vậy còn hay nói bậy bạ làm con và mấy bạn khác bực mình!

Eo ôi! Vẫn là chuyện thị phi phù phiếm của trẻ con! Vừa nghe qua, đã thấy đau đầu rồi, tôi đành nghiêm nghị bảo :

-       Thứ nhất, con nghĩ là bạn múa sai nhưng chưa chắc bạn đã múa sai. Chỉ có cô giáo mới biết được ai múa đúng, ai múa sai. Thứ hai, nếu con đã khẳng định được bạn làm điều gì sai, thì đừng bắt chước làm sai theo bạn. Thứ ba, nếu hễ thấy bạn không vừa ý con, rồi con giận dỗi, tẩy chay bạn, thì kể như con mất một người bạn. Cứ tiếp tục như thế, con sẽ mất bạn dài dài cho đến khi chẳng còn đứa bạn nào. Con nên nhớ, trên đời này, không có ai hoàn hảo hết, kể cả bản thân con! Chưa kể là mỗi khi bực tức, con tự đánh mất sự bình an của chính mình. Như vậy, kẻ thiệt thòi trước tiên sẽ luôn luôn là con. Sao con không cầu xin Chúa giúp bạn con thay đổi? Chỉ cần bạn chịu thay đổi, hết chướng thối, là con khỏe rồi. Con vừa giữ được tình bạn, vừa giữ được tâm hồn luôn an lạc, vui vẻ!

Lần này, tôi cũng liều mạng đùn đẩy qua cho… Chúa mà trong bụng đánh… lô tô, chẳng hiểu Thiên Chúa Toàn Năng có khấng chịu nhúng tay vào trò đôi co vô nghĩa này không nữa! Vậy mà vài tuần sau nữa, tôi kinh ngạc thấy con cặp kè thân thiện với đứa bạn « xí xọn » nọ, đã thế còn thích chí khoe :

-       Bạn XYZ bây giờ ok rồi!

Bấy giờ, tôi mới thở phào, bội phục sự khôn ngoan siêu vời của… Chúa Thánh Thần! Chắc chắn là Ngài linh hứng cho tôi rồi, chứ cái đầu bé nhỏ rỗng tuếch của tôi làm sao có thể phát minh ra một giải pháp giản dị nhưng lại công hiệu một cách thần kỳ như vậy!

Khổ nỗi, đã lỡ dạy con như thế rồi thì chính mình cũng phải… áp dụng theo. Không lẽ nói một đằng, làm một nẻo? Thế rồi ngày tháng trôi đi, tôi bỡ ngỡ chứng kiến sự lột xác từng bước của tâm hồn mình, kèm theo là ánh mắt đã trở nên thân ái hơn của những người xung quanh. Thảo nào, các Thánh Lễ đều mở đầu bằng Kinh Cáo Mình : « Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa Toàn Năng… lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng…»

Thật thế, « lỗi tại tôi mọi đàng » chính là chiếc chìa khóa vạn năng có khả năng phá vỡ các mắt xích của hiểu lầm, đố kỵ, đã nối kết chặt chẽ với nhau thành chiếc vòng xoáy bế tắc của các cuộc xung đột, mâu thuẫn dai dẳng, không chấm dứt trong nhân thế. Tuy nhiên, đấy cũng là một ân huệ mà người ta chỉ có được nhờ cầu nguyện bởi chỉ có Thiên Chúa mới có đủ quyền năng điều hướng đôi mắt tâm linh mù tối của con người về phía lầm lỗi của bản thân, thay vì đăm đăm bơi móc, xoi mói vào sai trái của kẻ khác.

Giữa thời đại khoa học kỹ thuật đang tiến triển lên tới đỉnh cao mà đề cập đến cầu nguyện, nhất là lần chuỗi Mân Côi, phần đông ai nấy đều cười khẩy xem thường, cho là lỗi thời, vô dụng. Xưa kia, lúc còn ở lứa tuổi ngông nghênh « đầu đội trời, chân đạp đất », tôi cũng từng lắc đầu thất vọng trước đời sống chiêm niệm khép kín, xa rời thực tế của các đan viện. Nhưng một khi gối bắt đầu mỏi, chân bắt đầu chồn, tôi mới dần dà cảm nhận sức mạnh vô song của một hành vi có vẻ thụ động, yếm thế ấy : 

Giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi  (Mc 9:29).
Những gì không thể được đối với loài người, thì đều có thể được đối với Thiên Chúa (Lc 18:27)

Bởi lẽ, trên đời này, có rất nhiều việc mà tự sức người phàm, không thể làm được, hoặc giả như có thể, cũng không thể làm tới nơi tới chốn. Một trong những tình huống thách đố ấy, chính là kỳ vọng cải hóa kẻ khác mà không màng sửa đổi chính mình!

Hội Thánh Công Giáo vốn có truyền thống sùng kính Đức Trinh Nữ Maria. Vậy mà theo tất cả các trình thuật Tin Mừng, suốt thưở sinh thời, Đức Maria chẳng hề làm bất cứ điều gì cao siêu vĩ đại, ngoài… cầu nguyện và vâng phục. Vả lại, dưới lăng kính nhân loại, Đức Maria hoàn toàn là một nhân vật không tên tuổi. Như thế, chính nhờ và chỉ nhờ vào việc trung kiên cầu nguyện và vâng phục cho đến dưới chân Thập Giá mà Mẹ Maria đã xứng đáng được Hội Thánh tôn vinh với đủ tước hiệu cao cả, nào là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội, Nữ Vương Hòa Bình,…

Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng (Lc 2 :51)
Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói (Lc 1:28)

Đấy cũng là nguyên do vì sao Đức Giêsu luôn khẳng định : « Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời » (Mt 18:3). Vậy đâu là điểm khác biệt nền tảng giữa trẻ nhỏ và người lớn? Ấy là trẻ thơ chỉ biết khiêm hạ thỏ thẻ cầu xin, trong khi những kẻ kiêu hãnh tự cho là « trưởng thành » lại luôn ỷ vào sức lực giới hạn và trí tuệ hẹp hòi của mình mà vênh váo trước Nhan Thiên Chúa, giành quyền tự quyết!

Trở lại với đời sống cộng đoàn, thêm một thứ tâm lý lệch lạc phổ biến nữa là mỗi khi có sự bất hòa, người ta lập tức tìm cách hạ gục và loại trừ kẻ đối đầu với mình. Trái lại, Đức Giêsu phán bảo : « hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em » (Mt 5:44). Đối với nhãn quan thế tục, đây là một thái độ nhu nhược, ương hèn nhưng lại là sự khôn ngoan tuyệt hảo của con cái sự sáng. Đơn giản là vì người ta không thể sống an nhàn, yên ổn bao lâu xung quanh vẫn còn đầy rẫy kẻ thù. Tiêu diệt toàn bộ kẻ địch quả là việc bất khả thi, mà giả như có thực hiện được thì kẻ chiến thắng cũng sẽ chẳng vẻ vang gì bởi hắn khó tránh khỏi thương tích, tổn thất nặng nề, chưa kể là phải nhọc nhằn thu dọn tàn cuộc và lê lết quãng đời còn lại trong cô độc, hiu quạnh! Do đó, yêu mến kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ chính là bí quyết nhiệm mầu giúp cải hóa địch thủ, biến thù thành bạn hầu kiến tạo hòa bình, xây dựng phúc lợi cho chính cá nhân và cả cộng đoàn!

Nhân loại hôm nay đã rút ra được những bài học đắt giá từ các cuộc chiến tranh đẫm máu nhưng vô bổ trong quá khứ. Nhờ vậy, các quốc gia trong hiện tại luôn thiên về giải pháp đàm phán, hòa giải hơn là sử dụng vũ lực, bạo động. Hơn thế nữa, trong các cuộc thương lượng, người ta cố gắng đi đến cái gọi là « win-win solution », tức một thỏa thuận tối ưu mà cả hai bên đều có lợi. Rất dễ hiểu là vì trong một cuộc tranh chấp mà có kẻ được người mất thì thể nào những kẻ bại trận cũng sẽ ấm ức âm thầm tìm cách phá hoại, không để kẻ thắng cuộc yên thân, vênh vang hưởng thụ vinh quang khải hoàn!

Tiếp tục bàn về ba linh mục đã từng và hiện đang quản nhiệm giáo xứ, quả là mỗi vị mỗi vẻ và đều có những ưu khuyết điểm khác biệt. Đã thế, với cương vị lãnh đạo, các ngài chẳng khác nào làm dâu trăm họ, vừa ý kẻ này thì sẽ mếch lòng kẻ khác. Dưới góc nhìn hạn hẹp của riêng tôi, cha nào cũng có vài lối hành xử hay hướng giải quyết mà bản thân tôi không tán thành. Nhưng mặt khác, tôi cũng ý thức, điều quan trọng nhất là các ngài sống và thực thi theo ý Chúa, chứ không phải theo ý tôi. Khi tôi bất đồng quan điểm với các ngài, không nhất thiết là tôi đúng, các ngài sai! Vả lại, tôi xác định rõ, nếu vì một lý do nào đấy, các linh mục không thể hoàn tất mỹ mãn vai trò được giao phó, hoặc thậm tệ hơn là đánh mất ơn gọi thì kẻ thua thiệt hàng đầu chính là tôi và toàn thể cộng đoàn, đặc biệt giữa thời buổi mà ơn thiên triệu càng lúc càng trở nên khan hiếm! Vì vậy, theo thiển ý của tôi, cộng đoàn nên làm một việc thực tiễn, hữu dụng là kiên tâm cầu nguyện cho các linh mục, hơn là ca cẩm, phàn nàn về các ngài.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần ban cho các linh mục quản xứ ơn khôn ngoan sáng suốt để các ngài luôn biết phán đoán, định liệu, và linh hướng cộng đoàn theo đúng Thánh Ý của Thiên Chúa. Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng được mệnh danh là Nữ Vương Hòa Bình, cầu bầu và hướng dẫn cộng đoàn chúng con, ngõ hầu chúng con trở nên muối men của sự an bình và ánh sáng của sự hiệp nhất giữa một thế giới vẫn còn đầy tranh chấp và hận thù. Amen.

09-2016 

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Lão Tặc Thiên



Lão Tặc Thiên (Ông Giặc Trời)








Biết bao lần trong đời, nàng chỉ muốn bắt chước Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn trong tiểu thuyết kiếm hiệp “Ỷ thiên Đồ long ký” của Kim Dung, tuyệt vọng ngửa mặt, giang hai tay lên trời, thống thiết gào to lời thóa mạ trong đau khổ tột cùng:

- Lão Tặc Thiên! Lão Tặc Thiên! Ngươi với ta có thù oán chi mà ngươi nỡ đày đọa ta đến như thế này?

Đức Phật có nói “Đời là bể khổ”, nhưng cuộc đời lắm thăng trầm của nàng có lẽ phải ví von với một vực thẳm tăm tối đầy ngang trái thì mới tương xứng.

Nàng sinh ra và lớn lên trong một gia đình trung lưu, không thuộc hạng giàu sang nhưng cũng thừa của ăn, dư của để. Là con một, nàng được nuông chiều từ tấm bé. Chỉ phải tội, Lão Tặc Thiên keo kiệt đã không phú bẩm cho nàng một nhan sắc mặn mà thì chớ, lại gán ghép một cá tính mạnh mẽ như nam giới, không có tý yểu điệu thục nữ nào. Lúc còn bé, nàng chỉ thích trò chơi của con trai. Lớn lên tý nữa, nàng học võ và đoạt đai đen không mấy khó khăn. Nàng thường cặp kè với bọn con trai đi bắt dế, bắn bi, đá bóng, rượt đuổi và đấm đá ầm ầm.

Thời thơ ấu của nàng cứ thế trôi qua một cách êm ả cho đến khi nàng trưởng thành. Nhìn bề ngoài, nàng chẳng khác gì phái mày râu với y phục gọn gàng và cử chỉ điệu bộ cứng cỏi. Tuy vậy, tâm hồn của nàng vẫn là một nhi nữ yếu đuối chính hiệu luôn mong chờ núp bóng tùng quân. Chính điều nghịch lý ấy đã dần dà trở nên nguyên cớ đưa đẩy nàng vào ngõ cụt của khổ lụy nghiệt ngã.

Nói cho công bằng, Lão Tặc Thiên không đến nỗi tuyệt tình đối với nàng. Lão ưu đãi dắt dìu nàng vào con đường sự nghiệp trải hoa lót gấm thênh thang. Ngay từ hồi bé, nàng luôn là trò giỏi, không chỉ đứng đầu lớp, mà còn đứng đầu toàn trường. Năm 24 tuổi, nàng đã đoạt được mảnh bằng thạc sĩ và trở thành một giảng sư đại học danh tiếng. Ở thời đại của nàng, không mấy ai có bằng cấp cao, nhất là giới nữ. Bởi thế, nàng chính là niềm vui sướng của cha mẹ, là niềm tự hào của cả gia tộc.

Trái lại, Lão nhẫn tâm bẻ gãy cánh buồm duyên tình khiến cho nàng phải bao lần lao đao chịu cảnh lỡ chuyến đò ngang và cho đến cuối đời, vẫn cam đành lẻ bóng cô liêu. Thật ra, cánh đàn ông cũng rất mến mộ nàng nhưng họ chỉ yêu thích nàng như đồng nghiệp hay bằng hữu. Chưa từng có gã nào mon men đến tỏ tình hay ngỏ ý cầu hôn bởi nàng đã trót sinh lầm vào một thế kỷ mà cánh đàn ông chỉ cần một người vợ ít học nhưng dịu hiền và “công, dung, ngôn, hạnh” vẹn toàn.

Thế là một phụ nữ cao sang thành đạt như nàng mà đêm đêm phải bẽ bàng nhỏ lệ trên gối chiếc chăn đơn, nhìn chị em xung quanh vui vầy đôi lứa mà càng thêm buồn tủi. Giá như nàng là một nhi nữ trọn vẹn! Cứ nghĩ đến đấy là nàng tím ruột bầm gan, căm hận sự lầm lẫn trớ trêu của Lão Tặc Thiên vô tích sự khi nhào nặn ra giới tính của nàng.

Đến tuổi 30, giữa lúc nàng bằng lòng an phận với duyên số hẩm hiu thì nàng bỗng… mang thai, hay nói đúng hơn là một hoang thai oan nghiệt. Cha của đứa bé vốn là một trong những gã bạn thân thiết của nàng vì thất tình nên rủ rê nàng nhậu nhẹt tâm sự. Trong cơn say bí tỉ, gã không làm chủ được mình nên sau đó hối hả quất ngựa truy phong hòng trốn chạy trách nhiệm cho một đêm lầm lỡ.

Để bảo toàn danh giá gia phong, cha mẹ của nàng đã âm thầm thu xếp cho nàng đi xa một thời gian hầu lẩn tránh dư luận cay nghiệt đối với một phụ nữ chưa chồng mà chửa. Sinh nở xong, nàng giao phó con thơ cho vú nuôi rồi một mình trở về thành phố, tiếp tục con đường công danh đang sáng lạn.

Nếu Lão Tặc Thiên độc địa dường như đã chủ tâm ném đời nàng vào bể khổ trầm luân thì giờ đây, đến lượt nàng cũng vô tình xô đời con trẻ vào bể khổ điêu linh thứ hai khi nàng bỏ bê, không ngó ngàng gì đến nó. Con trai của nàng lớn lên trong lụa là gấm vóc nhưng duy có tình cha nghĩa mẹ lại là một thứ xa xí phẩm mà nó chưa từng nếm trải qua. Khi được 12 tuổi, nó bất mãn bỏ nhà đi hoang, lạc lối vào nẻo đường hút sách nghiện ngập rồi bị nhiễm bệnh liệt kháng (AIDS/SIDA) và chết mất xác ở cái xó xỉnh nào đó mà nàng không hề hay biết và cũng không bận tâm truy cứu tung tích.

Cứ ngỡ đâu suốt quãng đời còn lại, nàng sẽ phải lầm lũi một mình một bóng, nào ngờ khi vừa bước vào tuổi tứ tuần, một gã đàn ông đã chịu hạ cố cầu thân với nàng. Không những thế, gã còn trẻ hơn nàng vài tuổi và lại là trai tân, chưa thành hôn bao giờ! Quả là “mèo mù với phải cá rán”, một cơ hội quý hiếm như thế, làm sao nàng có thể bỏ lỡ cho đành!

Hôn phu của nàng xuất thân từ một gia đình Công giáo đạo hạnh, từ cha mẹ cho đến anh chị em đều đạo đức ngay lành, chỉ duy có gã là kẻ lông bông, đã không nghề không ngỗng, lại còn vướng vào tứ đổ tường, cả ngày chỉ biết phá gia chi tử.

Từ trước đến nay, vốn kiêu hãnh với trình độ học vấn cao siêu, lại canh cánh mối thâm thù huyết hải đối với Lão Tặc Thiên bất công vô đạo, có mắt mà không tròng, nàng đã thề với lòng sẽ không bao giờ cúi mình thờ phượng bất cứ thứ thần thánh bất tài, vô dụng nào trên đời. Nhưng giờ đây, nàng buộc phải nhượng bộ mà gia nhập Công giáo để có thể cùng hôn phu sánh vai vào thánh đường làm lễ hôn phối.

Ngày nàng hân hoan lên xe hoa, cũng là ngày mà gia đình chồng hớn hở đem vốn liếng bao nhiêu năm tống tiễn theo, chỉ vì có kẻ dại dột chịu thay họ gồng gánh cái của nợ. Kể ra, nàng cũng có phúc đấy. Con gái nhà người ta khi xuất giá tòng phu không những phải mang theo của hồi môn giá trị mà còn phải cắn răng cam chịu cảnh mẹ chồng nàng dâu lắm đoạn trường. Riêng nàng không chỉ may mắn được khoản sính lễ hậu hĩnh, lại còn được cả nhà chồng hết lòng ưu ái, yêu chiều!

Thành thật mà nói, nàng chịu Phép Rửa chỉ cho có lệ, cốt làm vui lòng nhà chồng, chứ chẳng vì niềm tin. Riêng Lão Tặc Thiên bất nhân kia vẫn chưa chịu buông tha cho nàng và tiếp tục ngoan cố truy cùng đuổi tận. Chỉ được vài năm đê mê trong lâu đài tình ái, gã chồng trác táng đã lén lút gom góp hết tài sản của nàng rồi lẩn trốn theo ả tình nhân trẻ đẹp đang làm việc tại vũ trường.

Một lần nữa, nàng lại rơi vào tuyệt lộ của vô vọng cùng cực. Nàng lảo đảo nhảy lên xe máy, điên cuồng phóng như bay một cách vô định trên đường phố, không biết về đâu. Đến lúc mệt lả bởi cơn nắng gay gắt giữa buổi trưa hè, nàng mới dừng xe lại và nhận ra trước mặt mình là khuôn viên của thánh đường Đức Mẹ Fatima Bình triệu. Nàng gượng lê từng bước và khi lết được đến dưới chân tượng Đức Mẹ thì nàng đã kiệt sức khuỵu ngã và gục xuống.

Nàng cứ quỳ sụp như thế không biết trong bao lâu, tâm can trống rỗng tuyệt đối, không biết phải cầu gì và cũng chẳng còn sức để cầu. Sau cùng, nàng ngẩng lên và bỡ ngỡ bắt gặp gương mặt Đức Mẹ trở nên sống động linh hoạt một cách lạ thường, không cười mà vẫn như đang mỉm cười. Cõi lòng đang cuồng phong dậy sóng của nàng chợt lắng đọng và yên ắng lại. Vậy là nàng đã tìm được bến đỗ bình an thật sự cho tâm hồn.

Bước ra khỏi thánh đường với tâm hồn được đổi mới phơi phới, nàng chầm chậm lượn xe dọc theo cầu Bình triệu, lâng lâng thưởng thức làn gió chiều tối mát rượi đang âu yếm vỗ về làn da, mái tóc. Nàng đột nhiên bắt gặp một bóng người đang mò mẫm trèo lên thành cầu. Rétttt! Nàng vội vã thắng gấp, tấp xe vào lề, rồi hối hả lao tới.

- Để cho tôi chết. Cứ để cho tôi chết đi mà.

Một cô gái trẻ trung nhưng gương mặt sầu thảm, đầu tóc dã dượi đang tuyệt vọng vùng vẫy sướt mướt. Nàng giằng co kéo cô ta xuống nhưng cô ta cứ bướng bỉnh dợm bước trở lên thành cầu. Nàng bực tức giáng cho cô ta một cái tát như trời đánh. Bấy giờ, cô ta mới rùng mình tỉnh mộng, rồi tấm tức gục vào vai nàng nức nở. Nàng thân thiện vòng tay xiết chặt vai cô, nhẹ nhàng an ủi:

- Được rồi! Đâu còn có đó! Hãy theo chị về nhà nghỉ ngơi trước đã…

Theo lời tường thuật của cô gái, cô vốn là gái nhà lành, không may bị một gã họ Sở gạt gẫm, cho không biếu không một cái bầu tâm sự, rồi tự hô biến, mặc xác cô phải đối diện thế nào với cha mẹ, dòng tộc.

Từ đấy, ngôi biệt thự rộng lớn của nàng đã trở nên mái ấm tình thương dành cho những cô gái lầm đường lỡ bước, không chốn nương thân. Nàng kiên nhẫn thuyết phục họ chịu giữ lại thai nhi và tận tình dưỡng nuôi những đứa trẻ vô thừa nhận. Nàng tha thiết làm tất cả những điều ấy với tâm nguyện đền bù xứng đáng cho đứa con trai xấu số đã mất, hy vọng vong hồn linh thiêng của nó sẽ thông hiểu và tha thứ cho nàng.

Vài năm sau, gã chồng hoang đàng của nàng trở về với thân tàn ma dại, sau khi ả nhân tình vơ vét trọn của cải để đuổi theo tình nhân mới. “Của địa trả thiên” mà! Gã hấp hối từng cơn bởi căn bệnh liệt kháng đang bùng phát hoành hành. Nàng chấp nhận bỏ qua hết ân oán năm xưa, chu đáo chăm sóc gã trong những giờ phút thoi thóp sau cùng. Lòng tận tụy của nàng cuối cùng đã cảm hóa được trái tim vô cảm của một kẻ bội bạc. Gã run rẩy nắm tay nàng và thều thào lời thống hối muộn màng:

- Hãy tha lỗi cho anh. Xin Chúa tha thứ... cho con...

Nói đoạn, gã kiệt sức buông lơi tay nàng, trút hơi thở cuối cùng…

Vào tuổi ngũ tuần, nàng đã có sáu đứa con nuôi ngoan ngoãn và hiếu thuận. Ngày ngày, cùng các con quây quần dưới mái nhà ấm cúng, nàng dần dà vỡ lẽ rằng Lão Tặc Thiên ngông cuồng bá đạo mà một thời nàng ghi sâu thống hận lại chính là Cha Nhân Lành Từ Ái, Đấng biết rõ nàng cần gì, muốn gì và đếm từng sợi tóc trên đầu nàng.

Hóa ra kẻ có mắt không tròng mới là nàng chứ chẳng phải Lão Tặc Thiên. Biết bao ơn lành Cha Nhân Từ đã hào phóng tuôn đổ, kẻ khác mơ mà không được, nhưng nàng đã mù tối không nhận biết và trân trọng. Trái lại, nàng không ngớt tham lam yêu sách và hằn học than phiền. Rồi nàng ngỡ ngàng khám phá thêm rằng tất cả những thiệt thòi mất mát mà Lão Tặc Thiên vô tâm đã nhắm mắt giả ngơ, bỏ mặc nàng tự gánh, tự chịu, lại chính là hồng ân chan chứa của Cha Trên Trời. Bằng không, làm sao nàng có được lòng cảm thông sâu xa đối với những cô gái đồng cảnh ngộ để hôm nay nàng có thể hết lòng sống cho họ và vì họ?

Xưa kia, nàng thường giận dữ nghiến răng nguyền rủa Lão Tặc Thiên trong tâm tưởng, vậy mà Lão vẫn cứ trơ trơ, bình chân như vại, không sứt mẻ, không suy suyển tý nào. Rốt cuộc, chỉ có nàng mới là kẻ bất hạnh duy nhất, tự nhốt mình trong chốn tù ngục không lối thoát của căm giận oán hờn. Lạ lùng thay, khi nàng có thể nhận diện ra đấy là Cha đầy Lòng Thương Xót và cảm tạ Ngài, tâm hồn tù túng của nàng bỗng được mở ra và giải thoát một cách thần kỳ để đi về miền hạnh phúc bất tận và an bình sâu lắng.

Cuối cùng, nàng đã hiểu, hạnh phúc chân thật vốn đơn sơ và bình dị như giấc ngủ êm đềm của trẻ thơ trong vòng tay ru hời của mẹ. Hạnh phúc ấy chính là noi theo Đức Trinh Nữ Maria, vâng phục mà không màng đòi hỏi và hy sinh mà không mong được đáp đền.


08-2016